CHƯƠNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Sơ lược tình hình nghiên cứu ngoài nước Khái niệm chia sẻ xe đạp thông minh lấy tiền đề từ giao thông bền vững. Mô hình xe đạp CCTM là hệ thống cho thuê xe đạp tự động và người sử dụng phải trả một mức phí nhất định hoặc miễn phí, đa số hệ thống hiện nay sử dụng ứng dụng trên điện thoại di động thông minh vào mục đích sử dụng xe hay mở khóa xe.
Mô hình cho thuê xe đạp khá phổ biến ở các nước Âu Mỹ và trên thế giới như Mexico, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản v. Đây là đề tài được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu theo nhiều khía cạnh như nghiên cứu thực trạng áp dụng mô hình hay sử dụng khoa học kỹ thuật trong cải thiện mô hình. Nhiều đề tài, báo cáo khoa học nghiên cứu, phân tích tình hình áp dụng mô hình xe đạp CCTM như: Bài báo nghiên cứu “The Role of Smart Bike-sharing Systems in Urban Mobility” (2009), Peter MIDGLEY: Chia sẻ xe đạp thông minh là một hệ thống cung cấp nhanh và dễ dàng, thay đổi mô hình kinh doanh và áp dụng các kỹ thuật mới. Tác giả mô tả quá trình hình thành và triển khai hệ thống chia sẻ xe đạp.
Hệ thống bắt nguồn từ La Rochelle, Pháp và lan sang các nước ở châu Âu như Ý, Tây Ban Nha, Đức v. hệ thống đang hoạt động trên 78 thành phố 16 quốc gia với khoảng hơn 70000 chiếc xe đạp. Bài báo giúp hiểu thêm phương thức vận hành hệ thống áp dụng thẻ thông minh hoặc điện thoại di động để thuê xe đạp; bố trí các trạm ở những nơi truy cập dễ dàng từ các trạm giao thông công cộng trong thành phố; thời gian hoạt động và chi phí cho mỗi lần sử dụng dịch vụ của hệ thống. Từ đó, tác giả đã tìm ra được những hạn chế của hệ thống như: còn thiếu sự tôn trọng giữa người đi xe đạp, người đi bộ và người lái xe; các chương trình vẫn chưa được hỗ trợ về mặt tài chính; hệ thống xuất hiện hỗ trợ việc di chuyển và giảm bớt tác động xấu đến môi trường; đề xuất các điều kiện tiên quyết để thực hiện đảm bảo tính di động đô thị bền vững.
Tác giả khuyến khích đi lại bằng xe đạp, đưa ra tiêu chuẩn tối thiểu về cơ sở hạ tầng xe đạp như đất và đường dành cho xe đạp giúp đi xe an toàn, thuận tiện và đảm bảo đủ chỗ đỗ xe v. Thông qua bài báo khoa học, nhóm học hỏi một số kinh nghiệm nhất định từ hệ thống chia sẻ xe đạp thông minh và là tiền đề để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài của nhóm. “Visualization of the mobility patterns in the bike-sharing transport systems in Mexico City” (2016), L. Moncayo-Martínez: bài báo khoa học nghiên cứu và phân tích các dữ liệu từ cuộc khảo sát quá trình di chuyển bằng xe đạp giữa các trạm ở thành phố Mexico từ năm 2010 đến 2015.
Lý do người dân Mexico sử dụng xe đạp 8 là phục vụ cho sức khoẻ (60%) và 30% để tránh giao thông. Bài báo nêu rõ những ưu điểm và khuyết điểm trong hệ thống di chuyển giữa các trạm và các nhà quản lý trạm nhằm để các nhà khoa học phát triển các phương pháp cân bằng lại hệ thống trong việc sử dụng xe đạp công cộng. Từ bài báo, nhóm tiếp cận những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình vận hành mô hình tại Việt Nam nói chung và tại ĐHQG-HCM nói riêng. Nhiều nhà khoa học, tác giả cũng nghiên cứu các thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ cho hệ thống xe đạp CCTM thêm nhiều tiện ích: Chien-Nan Lee đã nghiên cứu đề tài “The design and implementation of the E- BIKE physiological monitoring prototype system for cyclists” (2011) đưa ra một vòng tay thông minh có hệ thống theo dõi trạng thái sinh lý của người đi xe đạp mọi lúc và cung cấp cho họ thông tin quản lý sức khỏe.
Trong những trường hợp thông thường, hệ thống này cũng có thể ghi lại khoảng cách và tốc độ đạp xe để tính toán số lượng calo bị đốt cháy của người đi xe đạp, cung cấp một số thông tin liên quan đến quản lý sức khỏe. Hệ thống định vị và cảm biến sinh lý được tích hợp, bảo vệ an toàn người đi xe đạp, có khả năng theo dõi các tín hiệu sinh lý (như nhịp tim và nhiệt độ) của người đi xe đạp mọi lúc, tốc độ ghi mỗi giờ và gửi tọa độ GPS trong trường hợp khẩn cấp. Trong trường hợp khẩn cấp, hệ thống sẽ gửi một cuộc gọi những người lân cận và ngay lập tức truyền tọa độ GPS yêu cầu hỗ trợ từ nhân viên y tế thông qua tin nhắn GSM. Đây là thiết bị hiện đại áp dụng trình độ khoa học công nghệ tiên tiến trong quá trình phát triển hệ thống E-Bike và cần được nhân rộng.
“A real time multi-objective cyclists route choice model for a bike-sharing mobile application” (2017) của Simon Ruffieux: bài báo khoa học nghiên cứu thông qua các ứng dụng trên điện thoại di động hỗ trợ cho người đi xe đạp lựa chọn chuyến đi thông minh nhất trong thời gian nhanh nhất. Với mục tiêu này, đầu tiên bài báo khoa học giới thiệu cách nhìn của con người về xe đạp cùng với những lợi ích mà nó cung cấp. Thứ hai, hệ thống cho thuê xe đạp đưa ra hệ thống cho thuê xe đạp và các bước thuê xe thông qua ứng dụng trên điện thoại di động. Thứ ba, giới thiệu, phân tích và thiết lập ứng dụng lựa chọn tuyến đường thông minh qua ứng dụng di dộng.
Tác giả đưa ra ứng dụng tiện ích và đảm bảo sức khỏe cho người dùng. Ứng dụng này cần được triển khai thực hiện và đề ra những định hướng phát triển trong tương lai. “The role of a non- profit organization-run public bicycle-sharing programme: the case of Kitakyushu, Japan” (2013), Nakamura, Abe, có thể tạm dịch là “Vai trò của một tổ chức phi lợi nhuận – vận hành chương trình chia sẻ xe đạp công cộng: trường hợp thành phố Kitakyushu, Nhật Bản”. Ở bài viết này, tác giả đã giới thiệu hệ thống chia sẻ xe đạp công cộng tại thành phố Kitakyushu, Nhật Bản; ngoài ra, còn đề cập đến các nghiên cứu trước đây về hệ thống này; bên cạnh đó, tác giả đi sâu hơn vào việc phân tích các dự án và người dùng hệ thống chia sẻ xe đạp công cộng.
Đối với các mô hình trước đây tác giả đã đánh giá tầm quan trọng cũng như vai trò của tổ 9 chức phi lợi nhuận (NPOs) với tư cách là nhà điều hành và từ đó xem xét áp dụng mô hình phi lợi nhuận với Nhật Bản. Đối với các dự án xe đạp công cộng tại Nhật Bản, tác giả đã nêu ra các thông tin về dự án, đây là mô hình có quy mô nhỏ, thường sử dụng 116 xe đạp hỗ trợ điện với 10 trạm nối. Chi phí chi trả cho việc thuê xe một giờ là 105 yên tối đa 1 ngày là 525 yên và theo tháng là 5250 yên. Bên cạnh đó, bài viết còn cho thấy được vai trò của hệ thống này trong việc cải thiện môi trường địa phương, cộng đồng địa phương v.
thúc đẩy sự phát triển cộng đồng. Nó được đề xuất trong nghiên cứu trong tương lai nên tiến hành chuyên sâu hơn phân tích không gian xã hội, đánh giá và so sánh chéo các chương trình tương đương với chương trình đó ở Kitakyushu. Bài viết này là tiền đề để kiểm tra các chương trình sử dụng xe đạp điện so với xe đạp bình thường và xem xét các đề án quy mô lớn hơn các yếu tố có thể dẫn đến các mô hình sử dụng không gian xã hội khác nhau của xe đạp công cộng. Mô hình xe đạp chia sẻ hay xe đạp công cộng đã diễn ra phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới từ châu Âu, châu Mỹ cho đến châu Á đều có mô hình này theo nhiều phương thức khác nhau.
Có thể kể đến: Dịch vụ Ttarungi - Seoul (Hàn Quốc): được xây dựng trên năm khu vực trọng điểm để chia sẻ xe đạp với 150 trạm chia sẻ xe đạp và khoảng 2.000 xe đạp công cộng. Các trạm xe đạp công cộng được lắp đặt gần ga tàu điện ngầm, trạm xe buýt, khu chung cư và văn phòng chính phủ. Hệ thống Ttarungi được vận hành thông qua trang web của hệ thống www.com hoặc ứng dụng điện thoại thông minh. Tại đây người dùng có thể đăng ký, thanh toán và thậm chí kiểm tra số lượng xe đạp có sẵn cho thuê tại mỗi trạm.
Điểm đặc biệt ở hệ thống này là người dùng có thể kiểm tra xem quãng đường, thời gian mà họ đã sử dụng cũng như họ đã đốt cháy được bao nhiêu calo. Santander Cycles của Luân Đôn: Với số lượng 11.000 xe đạp, 800 trạm (2018) thì hệ thống đáp ứng được phần lớn nhu cầu của người dùng. Santander Cycles là hệ thống xe đạp thông minh với điểm thiết kế đặc biệt ở đèn laser trước xe. Laser chiếu màu xanh lá cây khoảng 15 dặm giúp người dùng giảm góc mù cũng như cảnh báo người lưu thông trên đường, làm giảm đáng kể những va chạm không đáng có.
Hệ thống vận hành thu phí bằng cách trả qua thẻ tính dụng khi đăng nhập vào hệ thống đăng ký sử dụng dịch vụ. Santander Cycles thành công ở Luân Đôn nhờ có sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ trong nhiều phương diện đặc biệt là lập kế hoạch cơ phát triển cơ sở hạ tầng cho xe đạp; Trong bài nghiên cứu “Literature review of shared smart bicycle system” đã cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về tình hình, định hướng phát triển của xe đạp công cộng nói riêng và hệ thống giao thông công cộng ở một số nước phát triển nói chung như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan. Quy về một hướng chung, ta thấy 10 rằng hệ thống xe đạp thông minh nếu muốn áp dụng vào thực tiễn trong một đô thị thì chủ yếu phải xuất phát từ sự phát triển chung của thành phố. Cần hệ thống hóa và áp dụng theo quy trình từ thiết kế dự án, quản lý dự án, vận động chính sách, huy động xã hội để đem lại một kết quả tốt.
Đồng thời cần chú ý đến cơ chế và khuyến khích để xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng để phục vụ và phát triển xe đạp công cộng. Bên cạnh đó cần quan tâm đến chi phí đầu tư và vận hành, hệ thống trạm để tăng kết nối.