MỞ ĐẦU Trong thời đại bùng nổ về thông tin di động trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, trong vòng một thập kỷ vừa qua số lượng thuê bao di động tăng một cách chóng mặt và đạt tới mức kỷ lục trên 48 triệu thuê bao (theo công bố chính thức của Bộ Thông tin & Truyền thông ngày 3/6/2008). Trong đó số lượng thuê bao của các mạng sử dụng công nghệ GSM chiếm tới 93,43%. Điều đó chứng tỏ rằng công nghệ GSM vẫn phù hợp và chiếm lĩnh số một về thị trường di động tính đến thời điểm này và trong tương lai gần.
Khi mà nhu cầu về thông tin di động trở nên phổ biến như ngày nay thì khách hàng sẽ không quá bận tâm nhiều đến giá thành, mà họ sẽ chú ý đến chất lượng dịch vụ (QoS) và chăm sóc khách hàng của các nhà khai thác mạng di động. Trong khuôn khổ của luận văn này Tôi xin được đề cập đến khía cạnh thứ nhất - chất lượng dịch vụ. Để thu hút và giữ chân được khách hàng của mình thì chắc chắn các nhà khai thác mạng GSM sẽ phải rất chú ý đến chất lượng dịch vụ vì nó góp phần mang lại lợi ích khổng lồ trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trên thị trường di động. Trong số các cách để đánh giá hiệu quả vùng phủ sóng cũng như các chỉ tiêu kỹ thuật của hệ thống GSM thì phương pháp đo sóng (drive test) là một trong những phương pháp đơn giản mà hiệu quả nhằm tối ưu hoá được mạng lưới.
Trong thời gian làm việc vừa qua, tôi đã trực tiếp phụ trách mảng kỹ thuật này và đã thực hiện nhiều dự án cho hai mạng di động lâu đời nhất tại Việt Nam sử dụng công nghệ GSM là mạng di động của Vinaphone và Mobifone. Đây cũng chính là lý do để tôi chọn đề tài này làm luận văn của mình, vì vậy các kết quả có được hoàn toàn là kết quả thực tế mà tác giả đã thực hiện trong những năm công tác vừa qua. Trong quá trình thực hiện luận văn tác giả đã nhận được những ý kiến đóng góp rất hữu ích của các đồng nghiệp tại Phòng Công nghệ và Phát triển mạng - Công ty Thông tin di động VMS và các đồng nghiệp tại Trung tâm OMC - Công ty Dịch vụ Viễn thông VinaPhone; bên cạnh đó là sự chỉ bảo tận tình của Thày giáo hướng dẫn luận văn PGS. Nguyễn Viết Kính - Khoa Điện tử Viễn thông - Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Trong quá trình làm luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tác giả xin trân trọng những đóng góp của các thày cô và các đồng nghiệp xa gần để luận văn ngày càng hoàn chỉnh hơn. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về cho tác giả theo địa chỉ vinahorse78@yahoo. Tác giả xin chân thành cảm ơn. Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2008 Học viên: Hoàng Văn Cường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 17 - CHƢƠNG 1 - HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG GSM 1.
Kiến trúc hệ thống thông tin di động GSM Hình 1.1 Kiến trúc hệ thống thông tin di động GSM Trong đó: ME : Thiết bị di động VLR : Thanh ghi định vị tạm trú SIM : Module nhận dạng thuê bao HLR : Thanh ghi định vị thường trú BTS : Trạm thu phát vô tuyến gốc EIR : Thanh ghi nhận dạng thiết bị BSC : Bộ điều khiển trạm gốc AuC : Trung tâm nhận thực OMC : Trung tâm vận hành và bảo dưỡng PSTN : Mạng điện thoại công cộng MSC : Tổng đài di động PLMN : Mạng di động mặt đất công cộng GMSC : Tổng đài di động cổng Internet : Mạng internet 1. Các thành phần và chức năng trong hệ thống GSM Mạng thông tin di động mặt đất công cộng PLMN theo chuẩn GSM được chia thành 4 phân hệ chính sau: Trạm di động MS Phân hệ trạm gốc BSS Phân hệ chuyển mạch SS LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 18 - Phân hệ vận hành và bảo dưỡng 1. Trạm di động MS Trạm di động MS bao gồm máy di động ME và module nhận dạng thuê bao SIM. Đó là một module vật lý tách riêng hay còn gọi là thẻ thông minh.
SIM cùng với máy di động ME hợp thành trạm di động MS. SIM cung cấp khả năng di động cá nhân, vì thế người sử dụng có thể lắp SIM vào bất cứ máy điện thoại di động GSM nào truy nhập vào dịch vụ đã đăng ký. Mỗi điện thoại di động được phân biệt bởi một số nhận dạng điện thoại di động IMEI. Thẻ SIM chứa một số nhận dạng thuê bao di động IMSI để hệ thống nhận dạng thuê bao, một mật mã để xác thực và các thông tin khác.
IMEI và IMSI hoàn toàn độc lập với nhau để đảm bảo tính di động cá nhân. Thẻ SIM có thể chống việc sử dụng trái phép bằng mật khẩu hoặc số nhận dạng cá nhân PIN. Trạm di động ở GSM thực hiện hai chức năng: Thiết bị vật lý để giao tiếp giữa thuê bao di động với mạng qua đường vô tuyến. Đăng ký thuê bao.
Ở chức năng thứ hai này mỗi thuê bao phải có một thẻ gọi là SIM card. Trừ một số trường hợp đặc biệt như gọi cấp cứu… thuê bao chỉ có thể truy nhập vào hệ thống khi cắm thẻ này vào máy. Phân hệ trạm gốc BSS Phân hệ trạm gốc BSS giao diện với các trạm di động MS bằng trạm thu phát vô tuyến gốc BTS thông qua giao diện vô tuyến. Mặt khác BSS thực hiện giao diện với các tổng đài ở phân hệ chuyển mạch SS.
Tóm lại, BSS thực hiện đấu nối các MS với tổng đài và nhờ vậy kết nối những người sử dụng các trạm di động với những người sử dụng viễn thông khác. BSS cũng phải được điều khiển, do đó nó được đấu nối với phân hệ vận hành và bảo dưỡng OSS. Phân hệ trạm gốc BSS bao gồm: BTS: Trạm thu phát vô tuyến gốc. TRAU: Bộ chuyển đổi mã và phối hợp tốc độ.
BSC: Bộ điều khiển trạm gốc. Trạm thu phát vô tuyến gốc BTS Một trạm BTS bao gồm các thiết bị thu phát tín hiệu sóng vô tuyến, anten và bộ phận mã hóa và giải mã giao tiếp với BSC. BTS là thiết bị trung gian giữa mạng GSM và trạm di động MS, trao đổi thông tin với MS qua giao diện vô tuyến. Mỗi BTS tạo ra một hay một số khu vực vùng phủ sóng nhất định gọi là tế bào (cell).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bộ chuyển đổi mã và thích ứng tốc độ TRAU Bộ chuyển đổi mã và thích ứng tốc độ thực hiện chuyển đổi mã thông tin từ các kênh vô tuyến (16 Kb/s) theo tiêu chuẩn GSM thành các kênh thoại chuẩn (64 Kb/s) trước khi chuyển đến tổng đài. TRAU là thiết bị mà ở đó quá trình mã hoá và giải mã thoại đặc thù riêng cho GSM được tiến hành, tại đây cũng thực hiện thích ứng tốc độ trong trường hợp truyền số liệu. TRAU là một bộ phận của BTS, nhưng cũng có thể được đặt cách xa BTS và thậm chí còn tích hợp trong BSC và MSC.
Trạm điều khiển BSC BSC có nhiệm vụ quản lý tất cả giao diện vô tuyến thông qua các lệnh điều khiển từ xa. Các lệnh này chủ yếu là lệnh ấn định, giải phóng kênh vô tuyến và chuyển giao. Một phía BSC được nối với BTS, còn phía kia nối với MSC của phân hệ chuyển mạch SS. Giao diện giữa BSC và MSC là giao diện A, còn giao diện giữa BTS và BSC là giao diện Abis.
Các chức năng chính của BSC 1. Quản lý mạng vô tuyến: Việc quản lý vô tuyến chính là quản lý các cell và các kênh logic của chúng. Các số liệu quản lý đều được đưa về BSC để đo đạc và xử lý, chẳng hạn như lưu lượng thông tin ở một cell, môi trường vô tuyến, số lượng cuộc gọi bị mất, các lần chuyển giao thành công và thất bại. Quản lý trạm thu phát vô tuyến gốc BTS: Trước khi đưa vào khai thác, lập cấu hình của BTS (số card thu phát TRX, tần số cho mỗi trạm.
Nhờ đó mà BSC có sẵn một tập các kênh vô tuyến dành cho điều khiển và kết nối cuộc gọi. Điều khiển kết nối cuộc gọi: BSC chịu trách nhiệm thiết lập và giải phóng các kết nối tới máy di động MS. Trong quá trình thực hiện kết nối cuộc gọi, việc kết nối được BSC giám sát. Cường độ tín hiệu, chất lượng đấu nối ở máy di động và TRX được gửi đến BSC.
Dựa vào đó mà BSC sẽ quyết định công suất phát tốt nhất của MS và TRX để giảm nhiễu và tăng chất lượng cuộc đấu nối. BSC cũng điều khiển quá trình chuyển giao nhờ các kết quả đo kể trên để quyết định chuyển giao MS sang cell khác, nhằm đạt được chất lượng cuộc gọi tốt hơn. Trong trường hợp chuyển giao sang cell của một BSC khác thì nó phải nhờ sự trợ giúp của MSC. Bên cạnh đó, BSC cũng có thể điều khiển chuyển giao giữa các kênh trong một cell hoặc từ cell này sang kênh của cell khác trong trường hợp cell này bị nghẽn.
Quản lý mạng truyền dẫn: BSC có chức năng quản lý cấu hình các đường truyền dẫn tới MSC và BTS để đảm bảo chất lượng thông tin. Trong trường hợp có sự cố một tuyến nào đó, nó sẽ tự động điều khiển tới một tuyến dự phòng. Phân hệ chuyển mạch SS Phân hệ chuyển mạch bao gồm các khối chức năng sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - 20 - Trung tâm chuyển mạch nghiệp vụ di động MSC Thanh ghi định vị thường trú HLR Thanh ghi định vị tạm trú VLR Trung tâm nhận thực AuC Thanh ghi nhận dạng thiết bị EIR Phân hệ chuyển mạch SS bao gồm các chức năng chuyển mạch chính của mạng GSM cũng như các cơ sở dữ liệu cần thiết cho số liệu thuê bao và quản lý di động của thuê bao. Chức năng chính của phân hệ chuyển mạch là quản lý thông tin giữa những người sử dụng mạng GSM với nhau và với mạng khác.
Trung tâm chuyển mạch di động MSC Trung tâm chuyển mạch di động MSC hay còn gọi là tổng đài di động MSC thường là một tổng đài lớn điều khiển và quản lý một số các bộ điều khiển trạm gốc BSC.