Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm về sử dụng đất nông lâm nghiệp. Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi nhu cầu của con người lấy đi từ đất ngày càng tăng, mặt khác diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày một thu hẹp do chuyển sang đất phi nông nghiệp. Với mục tiêu xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài [3].
Để thực hiện mục tiêu trên, cần có các giải pháp và quan điểm cụ thể như sau: - Áp dụng phương thức sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp, đa dạng hóa sản phẩm, chống xói mòn, rửa trôi, thâm canh bền vững. - Nâng cao hiêu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên cơ sở thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật nuôi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với sinh thái và bảo vệ môi trường. - Phát triển nông lâm nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển theo chiều sâu, đáp ứng yêu cầu đa dạng hóa nền kinh tế quốc dân - Phát triển nông lâm nghiệp một cách toàn diện gắn với việc xóa đói giảm nghèo, giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và phát huy nền văn hóa truyền thống của dân tộc, không ngừng nâng cao nguồn lực của con người. - Phát triển kinh tế nông lâm nghiệp trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp của cơ sở phải gắn với định hướng phát triển kinh tế xã hội của khu vực, vùng và của cả nước. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất. Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp. Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha.
Trong đó, nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông 4 nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hóa. Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp [8]. Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm. Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hòa của của cả 3 lĩnh vực: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất bền vững.
Khái quát về hiệu quả sử dụng đất Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý. Trong đó đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng. Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel - Norhuas: “ Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội.
Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hóa khác” [26]. Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ [30], hiệu quả chính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại. Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sử dụng đất. Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định.
Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông 5 nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đó. Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới [38]. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp. Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có tính cạnh tranh cao.
Đó là một trong những điều kiện quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa vừa mang tính ổn định vừa đảm bảo sự bền vững Ngày nay nhiều nhà khoa học cho rằng: Xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lý thuyết, nghĩa là hiệu qủa phải được xem xét trên 3 mặt: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [26]. Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế. Mục đích sản xuất kinh tế - xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng trở nên khan hiếm. Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.
Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau các nhà kinh tế đã ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Mục tiêu các nhà quản lý đặt ra là với một khối lượng dự trữ tài nguyên nhất định tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn nhất. Hay nói cách khác là ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất. Điều đó cho thấy quan hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra là sự biểu hiện kết quả của mối quan hệ thể hiện tính hiệu quả của sản xuất.
6 Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người. Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng, vì vậy nâng cao hiệu quả kinh tế là đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất xã hội. Hiệu quả xã hội - Được thể hiện ở mức độ thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm với mức thu nhập mà người lao động chấp nhận, bền vững trong địa bàn và các vùng lân cận - Trình độ dân trí của người dân được thể hiện ở nhận thức và mức độ tiếp thu khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Mức độ phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu của người dân.
- Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống. - Đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định chính trị và an ninh lương thực. Hiệu quả môi trường Để đánh giá một phương thức sản xuất nào đó là tiến bộ, đi đôi với việc xem xét hiệu quả kinh tế còn phải đánh giá chung về hiệu quả môi trường. Hiệu quả môi trường của một hệ thống canh tác trước hết phải phục vụ mục tiêu của sự phát triển một nền nông nghiệp bền vững, đó là: - Bảo vệ và làm tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo và phục hồi những loại đất nghèo dinh dưỡng, đất đã bị suy thoái do kỹ thuật canh tác gây nên, duy trì và nâng cao tiềm năng sinh học của các loại đất còn chưa bị suy thoái.
Các tiêu thức dùng để đánh giá bao gồm: + Bón phân và bảo vệ đất: Việc cung cấp lại lượng chất hữu cơ bị mất đi hàng năm của đất là rất cần thiết để giữ độ phì cho đất. + Hạn chế dùng phân bón hóa học trong nông nghiệp. + Trồng cây họ Đậu (Fabaceace) bao gồm các cây họ Đậu ngắn ngày, dài ngày, cây phân xanh, cây đa tác dụng bằng nhiều hình thức: Trồng luân canh, trồng xen, trồng dọc đường ranh giới. 7 + Tăng vụ, tăng hệ số quay vòng của đất để tăng cường sự che phủ đất.
+ Tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen của các động vật, thực vật hoang dã dùng để lai tạo thành các giống chống chịu tốt với sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất thường. + Tính đa dạng giữa các hệ phụ trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề phụ, bảo quản chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ hàng hóa. + Phát triển phương thức nông lâm kết hợp, xây dựng các mô hình sử dụng đất bền vững. + Bảo vệ và duy trì nguồn tài nguyên nước bằng việc trồng rừng, xóa bỏ đất trống đồi núi trọc, trồng cây lâu năm, kết hợp nông lâm với nuôi trồng thủy sản….
Quan điểm sử dụng đất bền vững. Hệ sinh thái nông nghiệp được tạo ra nhằm mục đích phục vụ con người cho nên nó chịu những tác động mạnh mẽ nhất từ chính con người. Các tác động của con người, nhiều khi đã làm cho hệ sinh thái biến đổi vượt quá khả năng tự điều chỉnh của đất.