mở đầu tập trung một số nội dung chính như đưa ra tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu và những câu hỏi cần đặt ra cho nghiên cứu; trên cơ sở đó, luận án xác định giới hạn nghiên cứu về đối tượng, nội dung, không gian và thời gian; tiếp đến mô tả cơ bản những nội dung của luận án tập trung nghiên cứu, đồng thời nêu ra một số ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Sau hơn 10 năm thành phố Cần Thơ (TPCT) trực thuộc Trung ương, TPCT đã thực hiện theo nghị quyết 45 của Bộ Chính trị (ngày 17-2-2005) về xây dựng và phát triển TPCT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH), Thành ủy Cần Thơ đã ban hành Kế hoạch 10- KH/TU và chỉ đạo các sở, ngành xây dựng 10 chương trình, 4 đề án phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng đến năm 2010 và định hướng 2020. Trong giai đoạn 2010-2015, thành phố đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội, tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức khá cao, bình quân trên 15,6%/năm. Trong đó, khu vực nông- lâm-thủy sản tăng 5,5%/năm, công nghiệp - xây dựng 20,3%/năm, thương mại - dịch vụ tăng trên 16,3%/năm. Trên lĩnh vực nông nghiệp, với lợi thế có Viện lúa ĐBSCL, trường Đại học Cần Thơ đóng trên địa bàn, TPCT đang thừa hưởng những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học để xây dựng và ứng dụng nền nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC), đồng thời từng bước chuyển dịch theo hướng nông nghiệp đô thị.
Hiện tại, TPCT cũng đã qui hoạch Vành đai thực phẩm bao gồm tất cả các quận Ninh Kiều, Ô Môn, Bình Thủy, Cái Răng và Thốt Nốt; toàn bộ huyện Phong Điền, xã Vĩnh Trinh và diện tích huyện Thốt Nốt cũ điều chỉnh về huyện Vĩnh Thạnh, xã Định Môn và xã Trường Thành của huyện Thới Lai và diện tích của huyện Thốt Nốt cũ điều chỉnh về huyện Cờ Đỏ. Vùng qui hoạch này với tổng diện tích tự nhiên là 67.352 ha, trong đó diện tích canh tác rau màu đạt 7.500 ha (2015), sản lượng đạt 95.000 tấn và ước tính đến năm 2020 là 9.500 ha với sản lượng 133. Trong đó, phấn đấu đến năm 2020 có diện tích sản xuất rau đạt tiêu chuẩn an toàn là 100%. Qui hoạch Vành đai thực phẩm nhằm để thực hiện các mục tiêu sau: (1) xác định phạm vi, ranh giới của vùng nông nghiệp và làm cơ sở cho việc đầu tư; (2) đánh giá được sự tác động của việc phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị lên hoạt động sản xuất nông nghiệp; (3) phục vụ nhu cầu phát triển của các đô thị theo hướng CNH – HĐH; 1 (4) đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, ổn định xã hội và gia tăng thu nhập cho người dân vùng dự án.
Vành đai thực phẩm sẽ đáp ứng được nhu cầu về thực phẩm với chất lượng ngày càng cao, phát triển các nông sản hàng hóa cần ít đất, có giá trị kinh tế cao (rau màu, hoa, cây cảnh,.), tạo được nhiều việc làm cho lực lượng lao động thừa do mất đất bởi quá trình đô thị hóa; tạo được cảnh quan phục vụ các hoạt động du lịch và bảo vệ tốt môi trường nông thôn. Trong những năm gần đây, vấn đề sản xuất và tiêu dùng rau màu, nhất là rau an toàn được xem là nhu cầu thực sự cần thiết của xã hội do đời sống, nhu cầu tiêu dùng của người dân cả nước nói chung và của TPCT nói riêng đã có sự gia tăng đáng kể. Theo thống kê của ngành nông nghiệp ở các tỉnh ĐBSCL cho biết, trong 10 năm gần đây diện tích trồng rau tại khu vực này phát triển rất nhanh và quy trình sản xuất mang tính chuyên nghiệp ngày càng cao. Ước tính toàn vùng có khoảng 300.000 ha đất trồng rau (trong đó khoảng 50.000 ha rau sạch), tập trung chủ yếu ở Vĩnh Long, Tiền Giang, An Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng,… Nhờ ứng dụng kỹ thuật tốt nên năng suất rau trung bình đạt 15-17 tấn/ha.
Rau sạch ở ĐBSCL không chỉ tiêu thụ tại địa phương mà còn cung cấp chính cho thị trường thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) và xuất khẩu sang Campuchia, Trung Quốc. Qua đó cho thấy, nhu cầu và tiềm năng phát triển đối với sản phẩm rau màu là rất lớn, nhưng diện tích gieo trồng qua các năm của một số địa phương thì tăng chậm chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. TPCT cũng là một trong những địa phương có diện tích trồng rau đậu các loại tăng chậm, cụ thể là từ 5.464 ha năm 2005 tăng lên 7.287 ha năm 2014 với tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2005-2014 chỉ đạt 4,25%. Phần lớn nông dân tại TPCT sản xuất rau theo phương pháp truyền thống, sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), chưa chú ý đến dư lượng thuốc trong sản phẩm, thời gian cách ly của thuốc BVTV, phân bón.
Theo báo cáo của ngành nông nghiệp TPCT thì nhóm rau, đậu được xem là nhóm cây hàng năm chủ lực thứ hai sau lúa, vừa là cây thuận lợi luân canh với lúa, vừa là cây phù hợp với mô hình sản xuất tại đô thị và có thị trường tiêu dùng tại chỗ. Trên địa bàn TPCT có nhiều hệ thống siêu thị, nên sản phẩm rau màu sản xuất ra tại địa phương có ưu thế hơn về chi phí và thời gian vận chuyển so với sản phẩm rau màu nhập từ TPHCM và Đà Lạt. Nhưng sản phẩm sản xuất tại địa phương vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu chặt chẽ từ phía siêu thị về kiểm định vệ sinh an toàn thực phẩm, các vấn đề về hóa đơn bán hàng, nhãn mác, bao bì đóng gói sản phẩm. Mặt khác, qui mô sản xuất tại địa phương còn nhỏ lẻ, chủng loại chưa đa dạng, sản lượng không ổn định, trong khi đó siêu thị lại cần nguồn cung cấp ổn định với số lượng lớn và đa dạng về chủng loại.
2 Theo nhận định của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TPCT thì diện tích trồng rau màu của thành phố trong những năm qua gia tăng đáng kể, đó chính là một tín hiệu đáng mừng, là cơ sở để TPCT xây dựng những vùng trồng rau an toàn theo hướng tập trung và chuyên canh. Để giúp nông dân trồng rau màu có thu nhập ổn định, bên cạnh việc quy hoạch vùng sản xuất cũng cần phải có sự kết hợp giữa Chi cục Bảo vệ thực vật TPCT, các nhà khoa học thuộc các viện, trường tiếp tục hướng dẫn nông dân về kỹ thuật sản xuất để sản phẩm làm ra đạt tiêu chuẩn rau an toàn. Và nếu rau màu do nông dân sản xuất đáp ứng được những yêu cầu chặt chẽ cả về quy mô lẫn chất lượng và truy nguyên nguồn gốc thì tin chắc doanh nghiệp sẽ sẵn sàng “bắt tay” cùng nông dân đảm bảo ổn định đầu ra cho sản phẩm rau màu. Về hiệu quả của hoạt động sản xuất rau màu tại TPCT trong giai đoạn 2008 đến 2013 chỉ có nghiên cứu của Nguyễn Phú Son.
Nghiên cứu này đã đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối, cũng như những yếu tố tác động đến hiệu quả sản xuất rau an toàn của các hộ sản xuất tại vùng ven TPCT. Nhưng nghiên cứu chỉ tiếp cận thông tin trên 24 hộ sản xuất rau an toàn và 16 hộ sản xuất rau truyền thống tại vùng ven của thành phố. Qua đó cho thấy, cỡ mẫu trong nghiên cứu này quá nhỏ, vùng nghiên cứu chưa đủ rộng, có thể chưa đảm bảo tính đại diện cho hoạt động sản xuất rau màu trên địa bàn TPCT. Nói chung, vấn đề sản xuất cũng như tiêu dùng rau màu và thị trường của sản phẩm này còn nhiều vấn đề bất cập, do giá thành sản xuất cao, giá bán cao, hệ thống phân phối yếu (Huy Cận, 2013).
Đồng thời, sản phẩm chưa đáp ứng các tiêu chuẩn của đơn vị bán lẻ, điển hình là siêu thị, nên sản phẩm rau màu, rau màu an toàn vào hệ thống bán lẻ siêu thị ít, ảnh hưởng tiêu dùng (Hoàng Nga, 2012). Một số yếu tố khác cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất như: (1) Khoảng cách mua hàng, (2) Niềm tin khách hàng vào sản phẩm, và (3) Tính sẵn có của rau an toàn (RAT) (Nguyễn Văn Thuận & Võ Thành Danh, 2011). Trong đó, vấn đề nguồn cung sản phẩm này cũng còn nhiều hạn chế, có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau tác động. Vì vậy, hiệu quả sản xuất rau màu và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất cần phải nghiên cứu, đặc là tại TPCT.
Trong đó, nguyên nhân do hiệu quả phân phối các nguồn lực đầu vào sản xuất của nông hộ sản xuất rau màu thấp hay nói cách khác là sự phối trộn các yếu tố đầu vào sản xuất chưa tối ưu được xem là một trong những giả thuyết được đặt ra trong nghiên cứu này. Từ những phân tích trên, đề tài “Đánh giá hiệu quả sản xuất và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông hộ trồng rau màu tại TPCT” là thực 3 sự cần thiết. Kết quả của đề tài sẽ góp phần xây dựng các luận cứ khoa học trong việc đánh giá hiệu quả sản xuất của một hoặc nhiều loại sản phẩm thuộc lĩnh vực nông nghiệp, làm cơ sở để bổ sung các chính sách hỗ trợ, các giải pháp phát triển nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất rau màu khu vực ĐBSCL nói chung và tại TPCT nói riêng phát triển một cách bền vững, gia tăng thu nhập và việc làm cho nông dân, cải tiến năng lực cạnh tranh và nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng rau màu của xã hội.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Đánh giá hiệu quả sản xuất rau màu và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông hộ trồng rau màu tại TPCT.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung nêu trên, đề tài tập trung thực hiện các mục tiêu cụ thể sau: (1) Phân tích hiện trạng sản xuất rau màu tại TPCT; (2) Đo lường hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối và hiệu quả chi phí của nông hộ sản xuất rau màu tại TPCT. (3) Xác định các yếu tố tác động đến hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối, hiệu quả chi phí của nông hộ trồng rau màu tại TPCT.
(4) Đề xuất một số giải pháp bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm rau màu tại TPCT.