Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU Nội dung chính của chương này trình bày tổng quan về những nghiên cứu có liên quan đến nội dung của đề tài và giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu. Lược khảo những nghiên cứu liên quan Rất nhiều kết quả nghiên cứu về hiệu quả kinh tế sản xuất lúa đã được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước. Phần sau đây của đề cương tập trung lược khảo một số kết quả nghiên cứu có liên quan về mặt nội dung và phương pháp. Các yêu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận sản xuất lúa theo mô hình CDL được Văn Hiếu Ngọc (2013) nghiên cứu tai xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Kết quả nghiên cứu về thực trạng liên kết trong sản xuất giữa doanh nghiệp và nông dân cho thấy hợp đồng liên kết sản xuất giữa Chi nhánh Công ty lương thực Angimex và nông dân chưa chặt chẽ và rõ ràng, chưa khép kín. Đặc biệt là chưa bao tiêu hết sản phẩm thu hoạch của nông dân. Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận sản xuất cho thấy: trình độ học van, chi phí lúa giống, chi phí thuốc bảo vệ thực vật, chi phi phân bón và chi phí lao động có ảnh hưởng có nghĩa đến lợi nhuận sản xuất lúa. Kết quả sau cùng khang định sản xuất theo mô hình CDL đạt hiệu quả cao hơn so với sản xuất theo truyền thống.
Hiệu quả sản xuất lúa của các nông hộ tham gia mô hình cánh đồng lớn tại An Giang cao hơn các hộ ngoài mô hình theo kết quả nghiên cứu của Lê Nguyễn Đoan Khôi (2015). Tác giả cho rằng trong bối cảnh sản xuất mang tính chất hàng hóa thì nhu cầu liên kết hợp tác trong sản xuất hay liên kết trong kinh tế nói chung là cần thiết. Mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân sẽ giúp nông dân giảm bớt rủi ro do những biến động về giá thị trường vật tư và nông sản, tạo điều kiện để thâm canh và ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, các doanh nghiệp tham gia liên kết có được nguồn cung ứng vật tư, nguồn nông sản ổn định trong kế hoạch kinh doanh, cung ứng xuất khẩu. Mô hình cánh đồng mẫu lớn mang lại những hiệu quả thiết thực về khía cạnh: nâng cao thu nhập cho người nông dân, liên kết thị trường, hình thành lực lượng nông dân có trình độ tiếp cận công nghệ cao trong quy trình sản xuất lúa.
Kết qua của nghiên cứu đã chỉ rõ những yếu tố hiệu quả trong quản lý tổ chức sản xuất của hai nhóm nhóm nông hộ trong và ngoài mô hình. Cũng tại tỉnh An Giang, Nguyễn Quốc Nghi (2016) đã nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế của nông hộ sản xuất lúa trong mô hình Cánh đồng lớn. Số liệu nghiên cứu dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập từ phỏng van trực tiếp 115 nông hộ tham gia mô hình CDL ở các huyện Châu Thanh, Châu Phú và Thoại Sơn. Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu là thống kê mô tả và phân tích các tỷ số tài chính.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, với nông hộ tham gia mô hình CĐL được sự hỗ trợ của các doanh nghiệp từ khâu cung ứng các yếu tố đầu vào đến khâu tiêu thụ san phẩm, đã đạt được mức lợi nhuận khá cao. Tỷ suất lợi nhuận của nông hộ sản xuất lúa trong mô hình CDL đạt trên 0,4 lần ở cả 3 vụ lú Hè Thu, Thu Đông và Đông Xuân. Đáng lưu ý là nông hộ đạt tỷ suất lợi nhuận là 0,85 lần ở vụ lúa Đông Xuân. Nguyễn Hữu Hồng (2016) thực hiện nghiên cứu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia mô hình cánh đồng lớn của nông hộ sản xuất lúa tại Vĩnh Hưng - tỉnh Long An.
Dựa vào khung lý thuyết hành vi dự định, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA, các biến định tính được đo lường theo thang đo Likert. Dữ liệu dùng trong bài được thu thập từ 180 hộ sản xuất lúa trong và ngoài mô hình CDL. Kết quả nghiên cứu đã nhận diện được 5 yếu tố, trong đó yếu tố rủi ro cảm nhận có tác động tiêu cực, các yếu tố còn lại đều có tác động tích cực đến quyết định tham gia mô hình cánh đồng lớn của nông hộ. Các yêu tố này được sắp xếp lần lượt theo mức độ quan trọng: sự hữu ích; sự dé tham gia; hoạt động tuyên truyền; sự hỗ trợ của chính quyền các cấp.
Huynh Văn Thang (2017) đã thực hiện nghiên cứu so sánh hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của khi sản xuất lúa theo mô hình Cánh đồng lớn và sản xuất tự do trên địa ban huyện Giỗng Riêng, tỉnh Kiên Giang. Tác giả tiễn hành khảo sát 120 nông hộ sản xuất lúa trong và ngoài CDL và sử dụng phân tích thống kê mô tả va phân tích các kiêm định thống kê dé so sánh sự khác biệt về hiệu quả giữa hai nhóm nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nông hộ sản xuất lúa trong mô hình CDL dat hiệu quả cao hơn nông hộ ngoài mô hình trên cả 3 khía cạnh: kinh tế - xã hội - môi trường. Về khía cạnh kinh tế, nông hộ trong cánh đồng lớn tiết kiệm được chi phí sản xuẤt.
Tuy nhiên, lợi nhuận không cao hơn các hộ ngoài mô hình. Về khía cạnh xã hội, thu nhập trung bình của lao động cao hơn đối với hộ sản xuất CDL, nông dân yên tâm hơn về việc tiêu thụ sản phẩm lúa làm ra. Về khía cạnh môi trường, nông hộ trong CĐL được tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật sử dụng phân bón, nông dược hợp lý, biết cánh xử lý các rác thải trong nông nghiệp tốt hơn giúp đảm bảo được độ phì của đất và giảm ảnh hưởng xấu đến môi trường sản xuất. Dựa theo kết qua, tác giả đã đề xuất các biện pháp thúc đây nông hộ tham gia sản xuất theo mô hình CDL tại địa phương.
Nguyễn Thị Mỹ Linh và Cộng sự (2017) thực hiện một nghiên cứu so sánh hiệu quả mô hình sản xuất lúa truyền thống và Cánh đồng lớn tại Thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Trên cơ sở nhận định canh tác lúa là hoạt động phổ biến và góp phần quan trọng trong co cau kinh tế của Thị xã. Nghiên cứu bao gồm hai mục tiêu chính: Thứ nhất là đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của hai mô hình sản xuất lúa: cánh đồng lớn và truyền thống; thứ hai là phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của hai mô hình sản xuất lúa. Phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp phân tích chi phí - lợi ích sản xuất, thang do Likert đối với các biến định tinh, phân tích thống kê mô tả.
Các chỉ tiêu dựa trên các tiêu chí đánh giá đất đai của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc-FAO (2007) và các nghiên cứu đã được thực hiện ở ĐBSCL. Kết quả phân tích dựa trên điểm số cho từng biến quan sát, chỉ ra rằng mô hình CDL có tổng điểm 3 mục tiêu (kinh tế, xã hội và môi trường) lớn hơn mô hình truyền thống với số điểm lần lượt là 0,99 và 0,73. Nhóm tác giả đã kết luận CDL là một phương thức sản xuất lúa tiên tiễn góp phần tạo động lực cho sự phát triển nông nghiệp cho thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng. Trần Phú Ngọc và Võ Hồng Đức (2017) thực hiện nghiên cứu những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến sự tham gia sản xuất theo mô hình Cánh đồng lớn tại An Giang.
Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 200 nông dân trồng lúa tại 3 huyện: Châu Phú, Châu Thanh và Tri Tôn, tỉnh An Giang. Trong nghiên cứu nay, tác giả đã xây dựng 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng gồm: (i) Được dau tư vat tư nông nghiệp; (ii) Được hướng dan kỹ thuật trồng lúa; (iii) Được hỗ trợ thu hoạch và bao quản; (iv) Được chủ động quyết định giá bán và thời điểm bán; và (v) Được thu nhập cao hơn. Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong đề tài là đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và mô hình hồi quy Binary Logistic. Kết quả nghiên cứu cho thấy tat cả 5 nhân tố sử dụng trong mô hình có ảnh hưởng đến quyết định tham gia “Cánh đồng mẫu lớn” của nông dân trong mẫu khảo sát.
Kết quả nghiên cứu mang lại nhiều hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp liên quan trong chương trình liên kết sản xuất nhằm đem lại hiệu quả tốt hơn cho cả nông hộ tham gia sản xuất và doanh nghiệp. Nguyễn Phú Son và cộng sự (2017) thực hiện nghiên cứu khảo sát thuận tiện theo chủ đích 90 hộ sản xuất theo mô hình CDL và 90 hộ ngoài mô hình đề đánh giá và so sánh hiệu quả sản xuất giữa hai nhóm hộ này tại 3 tỉnh An Giang, Cần Thơ và Đồng Tháp. Nhiều phương pháp phân tích định lượng khác nhau được sử bao gồm những định lượng thống kê mô tả, phân tích bao phủ dữ liệu (Data Envelopment Analysis- DEA) và phân tích hồi qui đa biến Tobit. Kết quả phân tích định lượng cho thay các hộ sản xuất theo mô hình CDL có thé cắt giảm khoảng 1⁄4 chi phí sản xuất, với mức sản lượng không thay đồi dé nang cao hiệu quả.
Kết quả nghiên cứu cho thay các hộ trong mô hinhCDL có thé cắt giảm chi phí sản xuất đến khoảng 25% dé nâng cao hiệu quả, trong khi vẫn giữ được mức sản lượng không đổi. Hiệu qua chi phí trong sản xuất của các hộ trong mô hình CDL bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: trình độ chuyên môn hóa, mối liên kết giữa các các hộ và các nha cung cấp vật tư đầu vào, sử đụng giống có nguồn gốc và khả năng tự trang bị được máy bơm nước. Kết luận chung của nghiên cứu là trong vụ Đông Xuân, nông hộ sản xuất trong mô hình CDL đạt hiệu quả cao hơn nông hộ ngoài mô hình. Nguyễn Tuan Kiệt (2017) thực hiện nghiên cứu với mục tiêu chính là phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất vụ Hè Thu của hộ sản xuất lúa tham gia chương trình cùng nông dân ra đồng với doanh nghiệp ở huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
Kết quả so sánh với nhóm hộ “tương đồng” nhưng không tham gia chương trình cho thấy, các nông hộ tham gia chương trình cùng nông dân ra đồng sản xuất đạt hiệu quả cao hơn cả về doanh thu, chỉ phí và lợi nhuận. Kết quả này được khẳng định qua phân tích hồi quy.