Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về các loài Keo - Trong những năm 1980, các loài keo Acacia đã được đưa vào thử nghiệm ở nhiều nước vì những khả năng tốt của chúng, nhất là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, năng suất cao. Khảo nghiệm ở Philippin với 7 loài, cho thấy Keo tai tượng có chiều cao đứng thứ ba ở cả hai điểm thí nghiệm (HaVmoller,1989; 1991).Pasad (1992 ) {20}, nghiên cứu sinh trưởng của các loài keo ACacia và một số loài cây khác trên các loại đất hoang hoá tại nhiều khu vực khác nhau ở ấn độ, kết quả đã khẳng định được tính trội về khả năng chịu hạn của một số loài keo sinh trưởng trên đất bạc màu như : Acacia Leptocarpa, A.
- Nghiên cứu về Keo lai. + Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và keo lá tràm được MesrsHerbum và Shim ghi chép lần đầu vào năm 1972 thuộc bang Sabah - Malaysia, năm 1978 mới được Pedkey xác định là giống lai. Nghiên cứu năm 1987 của Rufelds đã thấy rằng, tại miền bắc Sabah - Malaysia, keo lai xuất hiện từ rừng keo tai tượng với mức 3-4 cây/ha, còn Wong thì thấy xuất hiện ở tỷ lệ 1/500. + Năm 1991, Cyeil Pisno và Robert Nasi đã thấy rằng, tại UluKuKut cây lai tự nhiên đời F1 sinh trưởng khá hơn các xuất xứ của Keo tai tượng ở Sabah.
Các tác giả này cũng thấy gỗ của cây lai là trung gian giữa keo tai tượng và keo lá tràm, có phẩm chất tốt hơn Keo tai tượng. + Edmund Gan và Sim Bon liang (1991) nghiên cứu hình thái ở giai đoạn vườn ươm và thấy rằng trong lúc keo lá tràm có lá giả điển hình ( lá của cây trưởng thành) ở lá thứ 5. Keo tai tượng ở lá thứ 12 thì keo lai ở lá thứ 8. + Năm 1992 ở Inđônêxia, bắt đầu có thí nghiệm trồng keo lai bằng cây con được nhân giống từ nuôi cấy mô phân sinh cùng Keo tai tượng và Keo lá tràm.
Nghiên cứu tác động kinh tế, xã hội, môi trường từ rừng trồng Khi nghiên cứu về phương diện kinh tế của rừng trồng cũng được nhiều người quan tâm. Theo tài liệu lưu trữ trong Tree CD-ROM (CAB.international for asia) từ năm 1939 đến năm 1995 có 48 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế trong lâm nghiệp, trong đó có 9 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng và chủ yếu tập trung đánh giá hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh. HansM - Gregersen và AmoldoH. Contresal (1979) {21}, trong cuốn "phân tích kinh tế các dự án trong lâm nghiệp" đã đưa ra các phương pháp tính hiệu quả kinh tế trong trồng rừng với các nội dung cơ bản về lãi xuất, cơ sở tính lãi suất, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả của dự án theo phương pháp này được đánh giá trên 2 mặt. Phân tích tài chính là sự đánh giá, mô tả tính sinh lợi thương mại mà các nhà đầu tư, các doanh nghiệp thu được từ hoạt động sản xuất của dự án. Phân tích kinh tế ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả hiệu quả kinh tế - xã hội, môi trường, theo đó phân tích kinh tế là "Đánh giá những hiệu quả xã hội thu được từ việc đầu tư nguồn lực". Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt nam 1.
Nghiên cứu về các loài Keo Nghiên cứu loài Keo tai tượng được bắt đầu vào năm 1980, theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (1991) {1}, một số xuất xứ của 4 loài Keo đã được đưa vào thử nghiệm ở nước ta cho thấy, tiềm năng sinh trưởng đáng khích lệ, ở hai địa điểm Ba Vì (Hà Nội) và Hoá Thượng (Thái Nguyên), Keo tai tượng sinh trưởng khá nhất cả về chiều cao và đường kính. Cuối những năm 1980, keo tai tượng đã trở thành loài keo được ưa chuộng nhất ở nước ta, vì bên cạnh sinh trưởng nhanh nó còn khả năng duy trì độ phì của đất, chống xói mòn. Nhìn chung, ở miền Nam, Keo tai tượng lớn nhanh hơn ở miền Bắc, cụ thể là ở Bình Sơn (Đồng Nai) loài này đạt chiều cao bình quân 2,8 m/năm và đường kính bình quân đạt 4,5 cm/năm. ở Tân Tạo -Thành Phố Hồ Chí Minh, hai chỉ tiêu này là 2,6 m/năm và 3,4 cm/năm, trong khi đó ở Ba Vì - Hà Nội và Vĩnh Phú, hai chỉ tiêu này chỉ là 1,9 m/năm và 2,4 - 2,6 cm/năm.
5 Một số xuất xứ A.mangium đã được đưa vào khảo nghiệm ở một số nơi, mặc dù các rừng khảo nghiệm còn non tuổi, song đã có kết quả bước đầu: Tại Bầu Bàng, nơi ứ nước trong mùa mưa, xuất xứ sinh trưởng nhanh là Kennedy và Kuranda, còn ở La Ngà, đất tốt và thoát nước trong mùa mưa, các xuất xứ Kuranda, Bronte và Hawkins sinh trưởng khá nhất. Sinh trưởng của keo tai tượng ở Bầu Bàng chỉ đạt gần 2m/năm, trong khi ở La Ngà, xuất xứ tốt nhất đạt chiều cao 3,3 m/năm. Khi nghiên cứu tình hình sinh trưởng và phát triển của 4 loài cây trồng rừng chính tại vùng nguyên liệu giấy, Huỳnh Đức Nhân (1996) {2} Thông báo kết quả: Trên cùng một lập địa, cùng cấp tuổi (4-5) các loài sinh trưởng khác nhau rõ rệt, sinh trưởng của keo tai tượng đứng trước loài thông caribê nhưng đứng sau bạch đàn urophylla và bạch đàn trắng. Nhìn chung cả 4 loài đều có lượng tăng trưởng thường xuyên hàng năm lớn nhất ở tuổi 4.
Đoàn Thanh Nga (1996) {2} nghiên cứu dâm hom cho keo tai tượng, tại trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp Phù Ninh, Thông báo một số kết quả. hom từ chồi gốc, nồng độ IBA 150 PPm cho tỷ lệ ra rễ cao nhất 80%, hom từ chồi cành cây mẹ 2 tuổi, nồng độ thuốc IBA 100 PPm ra rễ 42% và hom từ chồi cây mẹ 7 tuổi với các nồng độ IBA50-100-150 PPm đều không ra rễ. Như vậy mức độ trẻ hoá đối với keo tai tượng thực sự là cần thiết, mối tương quan giữa tỷ lệ ra rễ của hom và chiều dài của rễ tương đối chặt. Tác giả kết luận, có sự sai khác giữa các công thức sử lý, hom từ chồi thân 2 tuổi với nồng độ IBA 150 PPm được coi là thành công, hệ rễ phát triển tốt, hom khoẻ mạnh có đủ điều kiện xuất vườn.
Nguyễn Thị The (1996) {2} gây trồng Keo tai tượng ở Thanh Hoá, bước đầu cho biết kết quả: Keo tai tượng trồng tại trạm nghiên cứu Lâm nghiệp, nơi có tầng đất dày trên 70 cm, thực bì đặc trưng là ba soi, ba bét sinh trưởng tốt, cho tỷ lệ sống đạt 94%. Sau 2 năm tuổi đường kính gốc bình quân đạt 9,4cm, chiều cao 7,5m, đường kính tán 3,6m. Khi trồng ở các huyện trong tỉnh Thanh Hoá, keo tai tượng sinh trưởng ở từng nơi khác nhau do điều kiện khí hậu, đất khác nhau.1: So sánh sinh trưởng của Keo tai tượng tại các vùng lập địa khác nhau. Địa điểm Do (cm) HVN (m) D tán (m) Trạm nghiên cứu LN Ngọc Lạc 9,4 7,5 3,6 Trường Lâm nghiệp Triệu Sơn 5,0 4,0 1,9 Trạm Lâm nghiệp Quảng Xương 1,3 0,8 0,4 (Nguồn: Gây trồng Keo tai tượng ở Thanh Hoá (1996)) 1.Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS đánh giá hiệu quả dự án trồng rừng Ở Việt Nam, trong những năm gần, đây việc ứng dụng GIS vào thành lập bản đồ nói chung và bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất nói riêng đã có những bước tiến mạnh.
Theo các tài liệu thống kê của Tổng cục địa chính vào năm 2000 các bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp tỉnh đều được lưu trữ và quản lý sử dụng ở dạng số và chuyển tải lên tổng cục để xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất toàn quốc và quy định sử dụng phần mềm đồ hoạ MICROSTATION cùng với một số phần mềm bổ trợ. Tại đây với mục tiêu chủ yếu là phải tạo ra sản phẩm bản đồ bảo đảm chất lượng với giá thành hạ, họ đã đi vào nghiên cứu dây chuyền sản xuất bản đồ số để đưa ra một quy trình sản xuất bản đồ với đầu vào là bản đồ kết hợp với tư liệu viễn thám và kết quả đạt được rất đáng khả quan. Song kết quả nghiên cứu ở đây, thường chỉ phù hợp với việc xây dựng bản đồ với quy mô lớn. Để có thể ứng dụng GIS vào việc xây dựng bản đồ phục vụ công tác quản lý đất đai hoặc quản lý rừng ở quy mô nhỏ thì chưa nhiều, có thể có một số đề tài đã đề cập đến vấn đề này như sau: Mẫn Quang Huy (1999) {4} đã bảo vệ thành công luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp với tên" Ứng dụng GIS thiết kế cơ sở dữ liệu bản đồ cho hệ thống thông tin đánh giá tài nguyên đất cấp huyện".
Kết quả của nghiên cứu này mới chỉ đạt được ở mức thử nghiệm phần mềm Microstation vào thiết kế cơ sở dữ liệu bản đồ cho mô hình hệ thống thông tin tài nguyên đất ở huyện Đông Anh, Hà Nội và bước đầu ứng dụng phần mềm này để thiết kế cơ sở dữ liệu bản đồ đánh giá tài 7 nguyên đất của cấp huyện. Kết quả nghiên cứu cũng đã đóng góp phần nào trong việc tăng cường công tác quản lý dữ liệu thông tin đất đai cho cấp huyện và khẳng định tính đúng đắn của việc ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý trong việc xây dựng bản đồ cho cấp huyện. Huỳnh Văn Chương, Vũ Văn Chương, Lê Thị Thanh Nga (2012) đã thực hiên đề tài “Ứng dụng GIS trong đánh giá đất đai phục vụ qui hoạch phát triển cây cao su tiểu điền tại huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị”. Nguyễn Quỳnh Anh (2011) đã thực hiện đề tài “Ứng dụng Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) và Phần mềm Đánh giá Đất đai Tự động (ALES) đánh giá thích nghi cây mía tại tỉnh Long An”.
Qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã xây dựng bản đồ phân vùng thích nghi đất đai cho phát triển cây mía tại tỉnh Long An. Trên cơ sở đó, đề xuất, hỗ trợ ra quyết định quy hoạch phát triển diện tích trồng mía theo hướng thích nghi đất đai trên địa bàn tỉnh Long An. Huỳnh Văn Chương (2009) với đề tài “Ứng dụng GIS để đánh giá sự thích hợp đất đa tiêu chí cho cây trồng trường hợp nghiên cứu ở xã Hương Bình”. Xây dựng bản đồ vùng thích nghi trồ ng lúa chấ t lươ ̣ng cao ở tin ̉ h Viñ h Long.