Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về quản lý thuế TNDN Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng công tác quản lý thuế TNDN tại đội kiểm tra thuế số 3- Chi Cục Thuế quận Bình Thạnh, TP.HCM Chương 5: Hiệu quả và giải pháp 2 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 2. Khái niệm Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các cá nhân và tổ chức cho Nhà nước theo những tiêu thức đã được xác định trước, không phụ thuộc vào lợi ích cụ thể của người nộp, nhằm tài trợ cho các chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng của mình. Như vậy, có thể hiểu: thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Đặc điểm Thuế là một công cụ quản lý của Nhà nước, có những đặc điểm riêng biệt với so với các công cụ quản lý khác.
Vậy các đặc điểm chủ yếu của thuế như sau: Tính bắt buộc Thuế là nguồn thu chủ yếu nhằm tạo lập quỹ ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Tuy nhiên, ngay từ khi thuế mới xuất hiện với hình thức thu thuế sơ khai nhất thì cũng đã xuất hiện hành vi trốn thuế. Khi xã hội loài người ngày càng phát triển thì hành vi trốn thuế dần trở thành hành vi tránh thuế. Mặc dù cả hai khác nhau về mức độ tinh vi nhưng có chung mục đích nhằm tối thiểu số thuế phải nộp gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngân sách của Nhà nước.
Vì vậy, Nhà nước không thể trông chờ vào sự tự nguyện của người nộp thuế. Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy về thuế nhằm quy định nghĩa vụ bắt buộc các tổ chức, cá nhân phải nộp thuế cho Nhà nước. Nếu không tuân thủ các quy định bắt buộc này, người nộp thuế sẽ chịu sự xử lý của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Không hoàn trả trực tiếp Nộp thuế là một nghĩa vụ xã hội mà công dân không có quyền trốn tránh và cũng không có quyền đòi hỏi trao đổi ngang giá. Lợi ích từ việc nộp thuế sẽ được hoàn trả một cách gián tiếp thông qua các hàng hóa công cộng mà nhà nước cung ứng cho cộng đồng và xã hội.
3 Thuế phục vụ cho chi tiêu công Đặc điểm này làm giảm ý niệm “cưỡng bức” của thuế. Tổng thu nhập từ thuế Nhà nước chỉ chi một phần cho quản lý hành chính, đại bộ phận số thu nhập còn lại được chuyển giao cho dân chúng thông qua các hoạt động sự nghiệp và phúc lợi công cộng như: văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng… 2. Chức năng Phân phối sản phẩm xã hội Nhà nước sử dụng sức mạnh quyền lực tiến hành phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ. Thông qua chức năng này, thuế đã động viên một phần thu nhập của các bộ phận trong nền kinh tế- xã hội tạo nên thu nhập của nhà nước.
Các bộ phận khác trong nền kinh tế-xã hội không thể cung cấp hoặc cung cấp kém hiệu quả hoặc không đủ quyền lực để cung cấp sản phẩm, dịch vụ công như nhà nước. Vì vậy, nếu không có hoạt động này của nhà nước thì các cá nhân và hộ gia đình có thu nhập thấp sẽ không có cơ hội được thụ hưởng lợi ích tối thiểu của đời sống cộng đồng. Nguồn vật chất dồi dào và thường xuyên để tài trợ cho các hoạt động này chỉ có thể đảm bảo bằng cách đánh thuế để phân phối lại sản phẩm xã hội. Ổn định hóa kinh tế-xã hội Chức năng phân phối sản phẩm xã hội đã mở đường cho chức năng ổn định hóa kinh tế.
Trước hết, thuế tác động vào tổng cầu làm thay đổi thu nhập khả dụng của các bộ phận trong nền kinh tế-xã hội, qua đó gián tiếp tác động đến tổng cung (GDP). Ngoài ra, thuế còn tác động đến tốc độ tăng trưởng GDP, điều tiết xuất, nhập khẩu, thu hút đầu tư trong và ngoài nước… 2. Thuế thu nhập doanh nghiệp 2. Khái niệm Thuế TNDN là một loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập chịu thuế TNDN của các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; trên cơ sở doanh thu trừ chi phí liên quan đến việc hình thành doanh thu và các khoản giảm trừ theo quy định.
Tùy theo quan điểm và pháp luật của từng nước mà loại thuế này có nhiều cách gọi khác nhau. Theo đó thuế TNDN còn được gọi là thuế công ty (corporation tax); thuế thu nhập công ty (corporation income tax); thuế lợi tức (profit tax); thuế lợi tức công ty (corporation profit tax). Nhiều ý kiến cho rằng “thu nhập doanh nghiệp” được sử dụng 4 nhiều hơn, phổ biến hơn và khi sử dụng sẽ dễ đánh thuế hơn so với sử dụng phạm trù “lợi tức” do tên gọi gắn liền với đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế. Ở Việt Nam, Luật thuế TNDN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Thời gian đầu (từ năm 1999 đến năm 2008) Luật thuế TNDN còn áp dụng đối với cả thu nhập của cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (gọi chung là cơ sở kinh doanh). Đặc điểm - Một là, thuế TNDN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chịu thuế trong kì tính thuế của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đồng thời cũng là người nộp thuế. - Hai là, thuế TNDN đánh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp nên những DN nào có lợi nhuận mới phải chịu thuế, những DN không có lợi nhuận trong sản xuất, kinh doanh thì không phải chịu thuế TNDN. Vì vậy, thuế TNDN góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
- Ba là, thuế TNDN ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng và đóng góp tỷ trọng ngày càng cao trong NSNN. Các nước trên thế giới đã áp dụng thuế TNDN từ rất sớm như: Anh, Nhật vào giữa và cuối thế kỷ XIX; các nước Pháp, Thụy Sĩ,… áp dụng vào đầu thế kỷ XX. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều áp dụng thuế TNDN. Do sự phát triển của nền kinh tế cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nên thuế TNDN ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng, đóng góp tỷ trọng ngày càng cao cho ngân sách của các quốc gia 2.
Vai trò Huy động nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc Đây là vai trò rất quan trọng gắn với sự ra đời của thuế và có xu hướng tăng lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển và ổn định, tăng trưởng kinh tế cao, các chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước thông qua thuế TNDN ngày càng ổn định và vững chắc. Cũng như các nước trên thế giới, thuế TNDN ở Việt Nam cũng chiếm một nguồn thu nhất định trong NSNN và có xu hướng tăng lên qua từng năm. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế- xã hội, khi dùng thuế để tạo nguồn thu đáp ứng cho chi tiêu thì 5 Nhà nước cũng nên chú trọng đến tính hợp lý và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn thu này trong chi tiêu công nhằm có được sự đồng thuận của xã hội.
Để xây dựng chính sách thuế nhằm thực hiện tốt vai trò huy động nguồn tài chính thì cần phải đảm bảo: - Phải chú trọng đến khía cạnh công bằng trong điều tiết thu nhập khi xây dựng và thực hiện chính sách thuế, từ đó thực hiện sự bình đẳng giữa tất cả các đối tượng chịu sự điều tiết thu nhập của thuế. - Chính sách thuế phải tác động tích cực đến các yếu tố giúp tăng trưởng nền kinh tế xã hội nói chung. Cần lưu ý đến các trường hợp ưu đãi về thuế suất hay miễn giảm, các trường hợp không chịu thuế, hình thức thuế suất thích hợp với yêu cầu của từng loại thuế. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của các hoạt động kinh doanh, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã hoạch định.
Góp phần điều tiết kinh tế vĩ mô Thuế không chỉ đơn thuần là công cụ nhằm huy động nguồn thu cho Nhà nước mà còn tham gia vào quá trình phân phối lại tổng sản phẩm quốc dân (GNP). Qua đó, chính sách thuế được Nhà nước sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển và thiết lập sự công bằng xã hội. Thuế thể hiện vai trò này chủ yếu thông qua giá cả và thu nhập của doanh nghiệp. Chính sách thuế góp phần định hướng cho đầu tư trong nước, thực hiện chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của nhà nước như: thực hiện ưu đãi, miễn giảm khi đầu tư mới theo vùng lãnh thổ hay ngành kinh tế.
Từ đó góp phần vào việc tái cấu trúc nền kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ giúp phân bổ hợp lý các nguồn lực kinh tế-xã hội nói chung. Góp phần khuyến khích đầu tƣ Luật thuế được xây dựng trong bối cảnh cải cách kinh tế và hội nhập. Yêu cầu quan trọng hàng đầu là phải có tác dụng như một đòn bẩy, kích thích kinh tế phát triển, không phân biệt thành phần kinh tế và hình thức đầu tư, chưa đặt nặng yêu cầu điều tiết công bằng thu nhập. Do đó hình thức thuế suất được lựa chọn là tỷ lệ % ổn định (không lũy tiến) không phân biệt ngành nghề.
Những ưu đãi giữa DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng thu hẹp dần và đến nay đã xóa bỏ nhằm tạo tiền đề cho DN trong nước nâng cao khả năng 6 cạnh tranh. Quy định về miễn, giảm thuế khi thành lập mới cơ sở kinh doanh hay đầu tư chiều sâu đã tác động lớn trong việc khuyến khích đầu tư nói chung. Góp phần tái cấu trúc nền kinh tế theo ngành nghề và vùng lãnh thổ Điểm đặc biệt của thuế TNDN là việc áp dụng các thuế suất ưu đãi đối với các ngành nghề, địa bàn nhà nước khuyến khích đầu tư. Ngoài ra, còn có các quy định miễn giảm thuế cho các cơ sở mới thành lập hay sử dụng thu nhập sau thuế để tái đầu tư.