Chương 1 TỔNG QUAN 1. GIẢI PHẪU DẠ DÀY 1. Hình thể ngoài Dạ dày là đoạn phình to nhất của ống tiêu hóa, nối giữa thực quản và tá tràng, nằm sát dưới vòm hoành trái, ở sau cung sườn trái và vùng thượng vị trên. Dạ dày khi rỗng có hình chữ J, có 2 thành trước và sau, có 2 bờ cong nhỏ và lớn.
Kể từ trên xuống, dạ dày gồm có: tâm vị, đáy vị, thân vị, hang vị, phần môn vị (ống môn vị và môn vị) [93],[105]. Để xác định vị trí khối u, hiệp hội nghiên cứu UTDD Nhật Bản chia dạ dày làm 3 vùng : 1/3 trên, 1/3 giữa, 1/3 dưới bằng cách nối giữa các điểm chia đều 2 bờ cong [93]. Phần gần dạ dày tương ứng vùng một phần ba trên. Phần xa dạ dày bao gồm vùng một phần ba giữa và vùng một phần ba dưới của dạ dày [93],[105].
U: một phần ba trên (phần gần). M: một phần ba giữa (phần xa). L: một phần ba dưới (phần xa). E: thực quản D: tá tràng Hình 1.1: Sơ đồ phân chia các vùng của dạ dày [93],[105] 1.
Cấu tạo Dạ dày được cấu tạo bởi 5 lớp kể từ ngoài vào trong: - Lớp thanh mạc 4 - Lớp dưới thanh mạc - Lớp cơ: cơ dọc, cơ vòng, cơ chéo - Lớp dưới niêm mạc - Lớp niêm mạc Hình 1.2: Cấu tạo dạ dày [116] 1. Mạch máu của dạ dày Bắt nguồn từ động mạch thân tạng, gồm có 3 nhánh sau: động mạch vị trái, động mạch lách, động mạch gan chung. - Vòng mạch bờ cong vị bé: Tạo nên bởi hai động mạch: động mạch vị phải và động mạch vị trái. - Vòng mạch bờ cong vị lớn: Do hai động mạch vị mạc nối phải và động mạch vị mạc nối trái là 2 nhánh của động mạch vị tá tràng và động mạch lách tạo nên.
- Những động mạch vị ngắn: Phát sinh từ động mạch lách hay một nhánh của nó, khoảng 5 - 6 nhánh qua mạc nối vị lách phân phối cho phần trên bờ cong vị lớn. 5 - Động mạch vùng đáy vị và tâm vị: + Các nhánh thực quản phát sinh từ động mạch vị trái đi ngược lên phân phối cho mặt trước và sau vùng tâm vị và đáy vị. + Động mạch đáy vị sau bất thường sinh ra từ động mạch vị lách trong dây chằng vị hoành phân phối cho đáy vị và mặt sau thực quản. + Các động mạch hoành dưới trái cho nhánh đến mặt sau tâm vị.
- Tĩnh mạch dạ dày: thường đi song song với động mạch. Tĩnh mạch dẫn lưu về hệ cửa nên di căn dạ dày theo đường máu thường tại gan. ĐM vị mạc nối phải 10. ĐM vị mạc nối trái 13.
Nhánh mạc nối Hình 1.3: Mạch máu dạ dày và các nhánh nối [1], [116] 1. Hệ thống bạch huyết dạ dày Năm 1981, Hiệp hội nghiên cứu ung thư dạ dày Nhật Bản đã đưa ra bảng phân loại bằng tiếng Anh hệ thống hạch của dạ dày chia làm 16 nhóm hạch với 4 chặng như sau [105],[107]: 1. Các hạch tâm vị phải. Các hạch tâm vị trái.
Các hạch dọc bờ cong bé. Các hạch dọc bờ cong lớn. Các hạch dọc theo mạch máu vị ngắn. Các hạch dọc theo mạch máu vị mạc nối trái.
Các hạch dọc theo mạch máu vị mạc nối phải. Các hạch môn vị. Các hạch dưới môn vị. Các hạch dọc động mạch vị trái.
Các hạch dọc động mạch gan chung. Nhóm trước động mạch. Nhóm sau động mạch. Các hạch dọc động mạch thân tạng.
Các hạch rốn lách. Các hạch dọc động mạch lách. Các hạch dọc dây chằng gan tá tràng. Các hạch ở mặt sau đầu tụy.
Các hạch tại gốc mạc treo ruột non. Các hạch dọc động mạch mạc treo tràng trên. Các hạch dọc tĩnh mạch mạc treo tràng trên. Các hạch dọc theo các nhánh mạch máu động mạch đại tràng giữa.
Các hạch xung quanh động mạch chủ. Xung quanh động mạch chủ bụng ở khe hoành. Xung quanh động mạch chủ bụng (từ bờ trên động mạch thân tạng tới bờ dưới tĩnh mạch thận trái). Xung quanh động mạch chủ bụng (từ bờ dưới của tĩnh mạch thận trái đến bờ trên động mạch mạc treo tràng dưới).
Các hạch xung quanh động mạch chủ bụng (từ bờ trên của động mạch mạc treo tràng dưới đến chỗ chia đôi của động mạch chủ). 7 Ngoài ra còn có một số nhóm hạch khác như: 17. Các hạch ở mặt trước đầu tụy. Các hạch dọc bờ dưới tụy.
Các hạch ở dưới cơ hoành. Các hạch tại lỗ thực quản của cơ hoành.4: Phân loại hệ thống bạch huyết của dạ dày theo Hiệp hội nghiên cứu ung thư dạ dày Nhật Bản [93],[107] * Các hạch này xếp làm 4 chặng: - Chặng N1: gồm những nhóm hạch từ 1 đến nhóm hạch thứ 6. Những hạch này nằm cạnh dạ dày dọc theo bờ cong nhỏ và bờ cong lớn. - Chặng N2: gồm những nhóm hạch từ 7 đến nhóm hạch thứ 11.
Những hạch này nằm dọc theo các bó mạch chính (động mạch gan chung, vị trái, thân tạng, động mạch lách). - Chặng N3: gồm những nhóm từ 12, 13, 14 (nằm ở cuống gan, quanh động mạch, tĩnh mạch mạc treo tràng trên, sau đầu tuỵ, các hạch dọc theo các nhánh của động mạch đại tràng giữa). 8 - Chặng N4: các hạch xung quanh động mạch chủ bụng (nhóm hạch 16) Việc xác định các chặng hạch này quan trọng và nó giúp các nhà phẫu thuật trên thế giới có tiếng nói chung về đánh giá mức độ nạo vét hạch [93]. YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA UNG THƯ DẠ DÀY Các yếu tố nguy cơ của ung thư dạ dày (UTDD) bao gồm: yếu tố vật chủ và yếu tố môi trường.
Yếu tố vật chủ - Yếu tố di truyền: UTDD thường gặp ở người có nhóm máu A hoặc trong cùng gia đình và anh chị em sinh đôi. UTDD thể lan tỏa di truyền là một thể UTDD được xác định do đột biến gen E-cadherin [51],[66]. - Polyp dạ dày: một số loại polyp dạ dày có nguy cơ ác tính. Trong đó, polyp tuyến là khối u xuất phát từ tổ chức tuyến của dạ dày có nguy cơ sinh ung thư cao nhất, đặc biệt là các polyp tuyến có kích thước > 2cm.
Polyp tuyến chiếm khoảng 10% các polyp dạ dày [51]. Ngoài ra, khoảng 2% các polyp tăng sản có nguy cơ phát triển thành ung thư. Các polyp ở đáy vị hiếm khi phát triển thành ung thư, ngoại trừ những bệnh nhân đa polyp tuyến có tính chất gia đình [51]. - Loét dạ dày: nghiên cứu thuần tập của Hansson theo dõi trên 60.000 bệnh nhân Thụy Điển nhập viện vì loét dạ dày trong 9 năm nhận thấy nguy cơ ung thư dạ dày tăng gấp 1,8 lần [51].
- Tiền sử phẫu thuật cắt dạ dày: tỷ lệ mắc UTDD ở phần dạ dày còn lại tăng lên sau 20 năm, tỷ lệ mắc mới hàng năm ở những bệnh nhân này khoảng 3% [51]. - Giới tính: kết quả của các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy nam giới có nguy cơ mắc ung thư dạ dày cao gấp khoảng hai lần so với nữ giới. - Đột biến gen: đột biến gen p53 là gen ức chế sinh ung thư quan trọng nhất và là gen có liên quan đến nhiều loại ung thư ở người trong đó có UTDD [51]. Gen p53 ở trạng thái bình thường có vai trò ức chế chu kỳ tế bào để sửa chữa các tổn thương DNA, cảm ứng hiện tượng chết tế bào theo chương trình 9 (apotosis) và tương tác với các gen khác để kiểm soát sự tăng sinh, biệt hóa tế bào.
Đột biến gen p53 được tìm thấy trong cả UTDD týp ruột và týp lan tỏa [51]. Yếu tố môi trường 1. Chế độ ăn Chế độ ăn mặn, thịt cá hun khói, thức ăn ướp muối, lên men là yếu tố nguy cơ gây UTDD [75]. Các loại thức ăn này chứa rất nhiều hợp chất nitrate, các vi khuẩn trong dạ dày sẽ chuyển nitrat thành nitrite và ở môi trường acid dịch vị, nitrite sẽ kết hợp với các gốc amin có sẵn trong thức ăn chuyển thành nitrosamine - là chất gây đột biến sinh ung thư dạ dày.
Sự có mặt của các chất acid ascorbic (vitamin C), beta-caroten (tiền chất của vitamin A) là những chất chống oxy hóa sẽ giúp ngăn chặn sự tạo thành nitrosamine [75]. Vì vậy, chế độ ăn giàu rau tươi và trái cây làm giảm nguy cơ mắc UTDD. Thuốc lá Các nhà nghiên cứu về tác hại của thuốc lá đã tìm ra hơn 7000 chất độc hại bao gồm 70 chất sinh ung thư trong đó có benzopyrene và nitrosamine tồn tại trong thuốc lá. Thuốc lá là thủ phạm hàng đầu gây ra ung thư phổi, ung thư vùng đầu - cổ, ung thư thực quản, dạ dày, đại trực tràng, bàng quang, các bệnh lành tính như xơ vữa động mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính,….
Theo Gonzalez, người hút thuốc lá có nguy cơ UTDD tăng 1,56 lần và khoảng 18% trường hợp UTDD được quy cho hút thuốc lá, nguy cơ mắc UTDD tăng theo thời gian hút thuốc và giảm đi sau 10 năm cai thuốc [51],[75]. Helicobacter pylori Vi khuẩn H. pylori được Robin Warren và Barry Marshall tìm ra vào tháng 4 năm 1982 tại thành phố Perth, Australia. Kể từ đó, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên toàn thế giới giúp cho các nhà lâm sàng hiểu rõ hơn về vai trò gây bệnh của loài vi khuẩn này [108].
pylori là vi khuẩn Gram âm, kích thước từ 0,2 - 0,5 µm, có dạng xoắn hay cong giống chữ S hoặc chữ U với 4 - 6 chiêm mao ở một đầu. pylori sống 10 ở giữa lớp nhầy và bề mặt lớp tế bào biểu mô của dạ dày. pylori được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày, loét dạ dày - tá tràng, ung thư dạ dày và u mô lympho ở niêm mạc dạ dày. pylori được xem là nhiễm khuẩn phổ biến nhất ở loài người, gặp ở khắp nơi trên thế giới [108].
Theo ước tính, có khoảng một nửa dân số thế giới bị nhiễm nhưng hầu hết không có biểu hiện lâm sàng; trong số đó, khoảng 1% dân số bị nhiễm H. pylori tiến triển thành UTDD. Năm 1994, Tổ chức Quốc tế nghiên cứu về ung thư dựa trên các bằng chứng dịch tễ học đã nêu lên mối liên quan giữa nhiễm H. pylori với ung thư biểu mô tuyến của dạ dày và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công nhận xếp H.
pylori là nguyên nhân hàng đầu gây ra UTDD [108]. Trong báo cáo của Parkin vào năm 2002, tác giả nêu lên nhiễm H. pylori là nguyên nhân chịu trách nhiệm khoảng 75% ung thư dạ dày ở hang vị, thân vị (ngoại trừ ở tâm vị) và 63,4% tính chung cho tất cả các vị trí của dạ dày [108].