CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Khái niệm khuyến nông Khuyến nông là một quá trình trao đổi học hỏi kinh nghiệm, truyền bá kiến thức, đào tạo kỹ năng và trợ giúp những điều kiện cần thiết trong sản xuất nông lâm nghiệp cho nông dân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết được những công việc của chính mình, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình và cộng đồng. Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường, để họ đủ khả năng tự giải quyết các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới( Cục khuyến nông- khuyến lâm,200)[3].
Mục đích của khuyến nông Mục đích chính của công tác khuyến nông là bắc nhịp cầu nối liền khoảng cách giữa sản xuất và nghiên cứu, giữa người nông dân với nhà khoa học; nhà nghiên cứu; nhà làm chính sách; nhà doanh nghiệp,. Ðem những thông tin cập nhật và đáng tin cậy về phương pháp canh tác, về kinh tế gia đình, phát triển cộng đồng và các chủ đề liên quan cho những người nông dân cần đến nó bằng cách dễ hiểu và có ích cho họ. Ðồng thời phản ánh những vấn đề, những khó khăn, những nhu cầu mà người nông dân đang phải đối mặt cho các nhà nghiên cứu, các nhà làm chính sách để họ có những cải tiến và thay đổi phù hợp. Nâng cao nhận thức về chủ trường, chính sách, pháp luật và kiến thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất.
Ðể từ đó họ có những quyết định đúng đắn trong sản xuất, đáp ứng yêu cầu của thị trường và theo kịp sự phát triển chung của toàn xã hội. c 4 Mở rộng sản xuất, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn; Nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia phát triển nông nghiệp nông thôn 1. Vai trò của khuyến nông - Khuyến nông với phát triển nông nghiệp và nông thôn: Phát triển nông thôn là cái đích của nhiều hoạt động khác nhau tác động vào những khía cạnh khác nhau của nông thôn, trong đó khuyến nông là một tác nhân nhằm thúc đẩy phát triển nông thôn.
Hay nói cách khác khuyến nông là một yếu tố, một bộ phận hợp thành của toàn bộ hoạt động phát triển nông thôn. - Khuyến nông trong quá trình từ nghiên cứu đến phát triển nông lâm nghiệp: Những tiến bộ kỹ thuật mới thường nảy sinh từ các tổ chức nghiên cứu khoa học (viện, trường, trại.) và những tiến bộ kỹ thuật này phải được sử dụng vào trong thực tiễn sản xuất của người nông dân. Như vậy, giữa nghiên cứu và phát triển nông thôn có mối quan hệ chặt chẽ ràng buộc nhau như sản xuất - tiêu dùng, giữa người mua - người bán. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để kiến thức đó đưa vào được thực tiễn và người nông dân làm thế nào để sử dụng được chúng.
Nghĩa là giữa nghiên cứu và nông dân cần có một trung gian làm nhiệm vụ lưu thông kiến thức và khuyến nông trong quá trình đó là chiếc cầu nối giữa khoa học với nông dân. Xây dựng các mô hình trình diễn về tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với từng địa phương, nhu cầu của người sản xuất. Xây dựng các mô hình công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản. Chuyển giao kết quả khoa học công nghệ từ các mô hình trình diễn rộng.
- Khuyến nông đối với nhà nước: Khuyến nông là tổ chức giúp nhà nước thực hiện những chính sách, chiến c 5 lược về nông dân, nông nghiệp và nông thôn.Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách nông nghiệp. Trực tiếp cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân cho nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước hoạch định những chính sách phù hợp. Chức năng của khuyến nông là chức năng bắt buộc điều khiển, thúc đẩy giáo dục người lớn như nông dân và gia đình họ cần được trang bị những hiểu biết và thực hành để cải thiện các phương pháp sản xuất và năng suất lao động. Khuyến nông viên có nhiệm vụ chỉ dẫn cho nông dân cách phân tích và cập nhật tình hình phát triển nông thôn.
Trong phạm vi đào tạo của mình khuyến nông viên cần nắm một số nguyên tắc sau: + Người cán bộ khuyến nông và nông dân vừa là “thầy” vừa là “trò”. + Hoạt động khuyến nông phải đến với nông dân nơi họ sinh sống, làm việc và thực hiện vào các thời điểm thích hợp. + Trao đổi và thực hành là những yếu tố quan trọng trong việc tiếp thu kiến thức. Chuyển giao thông tin bao gồm thông tin kỹ thuật, giá cả thị trường, những yếu tố liên quan đến phát triển sản xuất, nguồn vốn vay.Tư vấn kỹ thuật cho nông dân để giúp họ giải quyết những khó khăn gặp phải trong sản xuất nông nghiệp.
Phần lớn những kỹ thuật khuyến cáo dựa vào kết quả nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp nông dân có thể tự thông tin và góp ý cho nhau. Khuyến nông viên phải luôn tạo cơ hội để những người sản xuất quan hệ trực tiếp với nhau. Phát triển đề tài khuyến nông và phương pháp khuyến nông, lập kế hoạch khuyến nông - Hệ thống khuyến nông các cấp: + Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
+ Cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) có trung tâm khuyến nông là đơn vị sự nghiệp công lập. c 6 + Cấp huyện (huyện, quận và thị xã, thành phố có sản xuất nông nghiệp thuộc cấp tỉnh) có trạm khuyến nông là đơn vị sự nghiệp công lập. + Cấp xã (xã, phường, thị trấn có sản xuất nông nghiệp) có khuyến nông viên với số lượng ít nhất là 02 khuyến nông viên ở các xã thuộc địa bàn khó khăn, ít nhất 01 khuyến nông viên cho các xã còn lại. Nguyên tắc hoạt động của khuyến nông Xuất phát từ nhu cầu của nông dân và yêu cầu phát triển nông nghiệp của Nhà nước.
Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sự tham gia tự nguyện của nông dân trong hoạt động khuyến nông. Liên kết chặt chẽ giữa có quan quản lý, cơ sở nghiên cứu khoa học, các doanh nghiệp với nông dân và giữa nông dân với nông dân. Xã hội hóa hoạt động khuyến nông, đa dạng hóa dịch vụ khuyến nông để huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia hoạt động khuyến nông. Dân chủ, công khai, có sự giám sát của cộng đồng.
Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng miền, địa bàn và nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau(Thủ tướng chính phủ,2010)[12]. Chức năng của khuyến nông Phổ biến những tiến bộ trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến nông lâm thủy sản và kinh nghiệm điển hình tiên tiến cho nông dân. Bồi dưỡng và phát triển kiến thức quả lý kinh tế cho nông dân để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Phối hợp với các cơ quan cung cấp cho nông dân những thông tin về thị trường giá cả nông sản để nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Để phù hợp với thực tế sản xuất mới hiện nay, NĐ số 56/2005/NĐ- CP ngày 24/6/2005 và TT số 60/2005/TT/BNN đã qui định mục tiêu khuyến nông- khuyến ngư: c 7 Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức, kỹ năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất. Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia khuyến nông, khuyến ngư ( Nguyễn Văn Long,2006)[10]. Hoạt động của khuyến nông Thúc đẩy sự kết nối và chia sẻ giữa các cá nhân và cộng đồng.
Thúc đẩy việc xây dựng năng lực của các cá nhân và các nhóm thông qua sự giáo dục bán chính thức. Thúc đẩy sự phát triển các tổ chức phục vụ cho việc quản lý sản xuất cây trồng, vật nuôi và tiếp cận thị trường. Kết nối việc lập kế hoạch, thực thi, theo dõi và đánh giá của các cộng đồng nhằm vào hoạt động độc lập của họ. Giải quyết các vấn đề và quản lý các mâu thuẫn để đi đến việc thống nhất các quyết định.
Có các phương pháp khuyến nông thích hợp cho mỗi tình trạng và nhóm sở thích. Các yếu tố ảnh hưởng đến xây dựng mô hình khuyến nông - Điều kiện tự nhiên: đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi. Do vậy việc xây dựng các mô hình khuyến nông phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, khí hậu thủy văn, đất đai ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng suất, phân bố cây trồng vật nuôi, khí hậu ảnh hưởng đến thời vụ, cơ cấu, khả năng xen canh tăng vụ, mức ổn định phát triển bền vững của sản xuất nông nghiệp. - Nguồn vốn là nguồn lực quan trọng và cần thiết cho quá trình xây dựng các mô hình khuyến nông, đặc biệt đối với mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ cao.
c 8 - Khoa học- kỹ thuật và công nghệ là yếu tố quyết định đến năng xuất, sản lượng của cây trồng vật nuôi. - Hạ tầng giao thông, thủy lợi có vai trò quan trọng trong việc thương buôn bán, khai thác vận chuyển nông sản, quyết định đến năng suất cây trồng. - Chính sách phát triển, hình thức tổ chức sản xuất, sự tham gia của các cấp chính quyền và người dân có vai trò quan trọng để lựa chọn mô khuyến nông phù hợp và quyết định sự thành công của các mô hình khuyến nông. - Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thông tin thị trường, tiềm năng thị trường của sản phẩm và khả năng tiêu thụ của sản phẩm(Phạm Bảo Dương,2009)[4].
Khái niệm đánh giá 1.