Phần Mở đầu. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu có liên quan. Chương 3:Vị trí địa lý,tình hình sản xuất lúa theo mô hình canh đồng lớn và Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận, khuyến nghị. LV Quản lý kinh tế 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN: 2.1 Khái niệm cánh đồng lớn : Xây dựng “Cánh đồng lớn” cũng là một giải pháp quan trọng lâu dài góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững được nêu trong Nghị quyết số 21/2011/QH13 ngày 26-11-2011 của Quốc hội (Nguyễn Trí Ngọc, 2012).“Cánh đồng lớn” là nông dân cùng nhau thực hiện sản xuất theo một qui trình chung trong tất cả các khâu từ sản xuất, quy trình kỹ thuật, quản lý sản xuất, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Để làm được điều đó người nông dân phải tổ chức được “hành động tập thể” của họ với nhau theo từng cánh đồng lớn thay vì các hoạt động độc lập, riêng lẻ. Qui trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản và thương mại cho doanh nghiệp được thiết lập trên cơ sở yêu cầu của doanh nghiệp, thị trường về khối lượng cung ứng, chất lượng., đây chính là các yếu tố để nông dân xây dựng hành động tập thể.
LV Quản lý kinh tế Theo chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mô hình cánh đồng lớn là mô hình hợp tác, liên kết 4 nhà, trong đó các hình thức liên kết được thực hiện thông qua hợp đồng giữa các tổ chức, doanh nghiệp với hợp tác xã hoặc tổ hợp tác, thâm canh lúa hiệu quả, bền vững theo hướng GAP, tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu lúa hàng hóa xuất khẩu chất lượng cao. Điểm nhấn của chủ trương này là tạo ra sản phẩm chất lượng cao và giá trị cao dựa vào phương thức sản xuất quy mô lớn. Tiêu chí để được đánh giá là cánh đồng lớn, cần căn cứ vào 8 tiêu chí sau: (1). Phải có quy hoạch vùng sản xuất phù hợp với quy hoạch chung của địa phương; (2).
Quy mô diện tích ít nhất là 100 ha trở lên; (3). Người dân tự nguyên tham gia sản xuất theo nhóm, tự giác và chủ động trong thực hiện mô hình; (4). Phải có doanh nghiệp tham gia hỗ trợ thuốc bảo vệ thực vật hay bao tiêu sản phẩm; 7 (5). Cơ quan quản lý chuyên ngành ở địa phương quan tâm, trực tiếp tổ chức và phối hợp với các đơn vị khác thực hiện; (6).
Cam kết hỗ trợ về kỹ thuật và tổ chức sản xuất; (7). Nông dân phải tự giác ghi chép quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap; (8). Mô hình cánh đồng lớn phải có hiệu quả kinh tế hơn gieo cấy bình thường, đảm bảo nông dân có lãi từ cây lúa ít nhất là 40%. Mô hình “cánh đồng lớn”có thể đạt đến vùng sản xuất lúa theo VietGAP được chứng nhận tùy theo nhu cầu và sự phát triển của mô hình.2 Các lý thuyết kinh tế học về tăng trưởng và phát triển nông nghiệp: 2.1 Lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô của Robert S.R (1989): Hiệu suất tăng dần theo quy mô khi sản lượng tăng hơn hai lần trong khi các yếu tố đầu vào tăng gấp đôi.
Điều này xảy ra khi quy mô sản xuất lớn hơn sẽ tạo điều kiện cho công nhân và nhà quản lý chuyên môn hóa các nhiệm vụ của họ và khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất như đất đai, máy móc LV Quản lý kinh tế thiết bị và các phương tiện sản xuất khác. Sự hiện diện các doanh nghiệp có hiệu suất tăng dần theo quy mô sẽ có lợi thế kinh tế hơn là để nhiều đơn vị sản xuất nhỏ vì chi phí cho từng hộ cá nhân cho việc tổ chức sản xuất cùng một loại hàng hóa cao hơn. Điều này thể hiện rất rõ trên thực tế, với quy mô diện tích đất đai lớn hơn, hộ nông dân dễ dàng áp dụng cơ giới hóa, thủy lợi hóa cũng như việc tổ chức sản xuất hàng hóa có lợi thế hơn rất nhiều với hộ nông dân có diện tích đất nhỏ lẻ, manh mún. Chẳng hạn, chỉ cần 1 ca máy thì có thể cày xong 10 ha đất nhưng nếu hộ nông dân chỉ có 2 ha đất thì vẫn phải thuê 1 ca máy để cày đất (Võ Thị Thanh Hương, 2007).2 Lý thuyết về chuyển giao công nghệ sản xuất nông nghiệp: Theo Alfred Marshall (1890), kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của sản xuất.C Hsiesh (1963), kiến thức nông nghiệp của nông dân phụ thuộc vào mức độ họ tiếp cận với các hoạt động cộng đồng ở vùng nông thôn.
Wharton (1963) cho rằng với tất cả các nguồn lực đầu vào giống nhau hai nông dân với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau. Như vậy, nông dân phải có đủ kiến thức để kết hợp các nguồn lực thì sản xuất mới hiệu quả, nhất là các chủ trang trại với quy mô sản xuất lớn nếu không có kiến thức để kết hợp các nguồn 8 lực do tích lũy phát triển đã trở nên lớn và phức tạp thì không những không tận dụng được lợi thế kinh tế theo qui mô mà còn bị ảnh hưởng bởi hiện tượng hiệu suất kinh tế giảm dần theo quy mô (Đinh Phi Hổ, 2003). Kinh nghiệm trong liên kết sản xuất nông nghiệp của một số nước: Trên thế giới, các nước không dùng khái niệm “cánh đồng lớn” mà có thể hiểu là các khu vực tập trung diện tích lớn, phát triển chuyên canh các loại cây trồng để đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường với việc áp dụng các công nghệ khoa học kỹ thuật hiện đại trong một hệ thống quản trị nhất định. Tiếp cận về cánh đồng lớn trên thế giới thường được thực hiện bắt đầu bằng xác định các tiêu chí mà thị trường yêu cầu hoặc chính phủ áp đặt như về chất lượng sản phẩm, môi trường, kỹ thuật canh tác, kế hoạch sản xuất, hệ thống quản trị…để làm cơ sở xây dựng hành động tập thể của liên kết ngang và liên kết dọc.
Những cánh đồng lớn có thể ở một khu vực, vùng nhỏ, hoặc cả một lưu vực cho một sản phẩm chuyên môn hóa cao. Một số mô hình cánh đồng lớn đã được thực hiện tại các nước trên thế giới và đã đạt được những thành công nhất định như: mô hình sản xuất rượu nho ở Pháp, mô hình trồng rau ở Philipines, mô LV Quản lý kinh tế hình sản xuất lúa ở Malaysia (Trần Thị Sim, 2015). Mô hình trồng rau ở Philipines Mô hình trồng rau này được thực hiện bởi một tổ chức có tên gọi Normin Veggies. Đây là tổ chức của nông dân thành lập với mong muốn là nơi người nông dân có thể cất lên tiếng nói của mình, là nơi chia sẻ mối quan tâm, cơ hội cũng như hiểu biết về ngành sản xuất rau để có cơ hội gia tăng thu nhập và cũng là nơi đại diện để đối thoại với chính phủ và những tổ chức khác.
Normin Veggies là tổ chức phi lợi nhuận, cung cấp dịch vụ cho những thành viên là những nông dân độc lập, hộ nông dân nhỏ, các quỹ phát triển, các trang trại, người cung cấp đầu vào và cung cấp dịch vụ, đơn vị thuộc chính quyền địa phương. Normin Veggies lập ra các nhóm làm thương mại cho từng sản phẩm (tổng cộng có 12 nhóm). Mỗi nhóm bao gồm khoảng 5-10 người, đứng đầu là một nông dân giỏi, có trách nhiệm lập kế hoạch marketing cho sản phẩm của khoảng 18 nông dân độc lập và 60 hộ nông dân nhỏ. Sự gắn kết của nông dân thể hiện ở cam kết cung cấp sản phẩm và thỏa thuận về khối lượng cung cấp, kế hoạch phân phối, tuân thủ theo chất lượng chung, thực hành sản xuất, quản lý thu hoạch và sau thu hoạch.
Việc xây dựng các nhóm nhỏ nhằm mục tiêu xây dựng hệ thống quản lý chặt 9 chẽ trong đó yêu cầu các thành viên bảo vệ uy tín của nhóm trên thị trường để đưa ra chiến lược giúp nông dân phản ứng nhanh nhạy với thị trường và tiếp cận với thị trường có giá trị cao hơn, mang lại lợi ích như đạt tính kinh tế theo quy mô và khả nằng cung cấp sản phẩm với số lượng lớn và chi phí giao dịch nhỏ hơn; tiếp cận thị trường tốt, giao dịch với nhà cung cấp dịch vụ, liên kết có hiệu quả với chính phủ và tổ chức tư nhân. Các nhóm này được điều phối chung bởi Normincorp, một đơn vị có trách nhiệm kết nối các nhóm với thị trường. Normicorp thu phí tính trên giá trị sản phẩm được giao dịch để duy trì hoạt động. Normicorp tham gia giám sát để đảm bảo kế hoạch sản xuất đáp ứng được kế hoạch marketing, giám sát chất lượng sản phẩm, quản lý sau thu hoạch, và giám sát hoạt động phân loại, vận chuyển, thu gom… Trong mô hình này, chính phủ và các nhà tài trợ tư nhân hỗ trợ về tập huấn, công nghệ và phát triển sản phẩm, thị trường, cung cấp khoản tín dụng cho đầu tư vào công nghệ của Normin Veggies, cũng như các hỗ trợ nhằm duy trì khả năng đáp ứng thị trường nông dân và giữ vị thế trên thị trường.
Bài học thành công của Normin Veggies là: - Hoạt động như một tổ chức hỗ trợ thành viên tiếp cận với những nguồn lực mà chỉ thành viên mới có được như đào tạo, nâng cấp kỹ thuật và hỗ trợ tiếp cận thị trường LV Quản lý kinh tế - Giao dịch minh bạch củng cố niềm tin, sự tin tưởng giữa các thành viên. - Sự chia sẻ giữa các thành viên về công nghệ, kiến thức, đóng gói và các kỹ năng khác để tham gia thị trường. - Khả năng thích ứng của Normin Veggies và Normincorp trước sự biến động của thị trường một cách khá linh hoạt. Đó là do sự liên lạc cởi mở và minh bạch giữa các thành viên.
- Năng lực lãnh đạo của các cán bộ là nòng cốt trong việc xây dựng mô hình (Trần Thị Sim, 2015). Kinh nghiệm của Nhật Bản: Theo Phan Trọng An (2009), các hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng của Nhật bản thường đảm đương các nhiệm vụ sau: 10 - Cung cấp dịch vụ hướng dẫn nhằm giáo dục, hướng dẫn nông dân trồng trọt, chăn nuôi có năng suất, hiệu quả cao cũng như giúp họ hoàn thiện kỹ năng quản lý hoạt động sản xuất. - Mục tiêu của hợp tác xã là giúp nông dân tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất. Các hình thức giao dịch giữa hợp tác xã với nông dân khá linh hoạt.