Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm có liên quan 1. Phát triển Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, đó là đại diện cho mỗi cách đánh giá khác nhau về phát triển.
Theo Ngân hàng thế giới (WB) năm 1992: Phát triển là sự tăng trưởng về kinh tế, bao gồm những thuộc tính liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, tự do về chính trị và các quyền tự do của con người (World Bank, 1992 trích trong Dương Văn Hiểu 2010) Phát triển bao hàm ý nghĩa rộng hơn tăng trưởng, phát triển bên cạnh sự tăng thu nhập bình quân đầu người còn bao gồm nhiều khía cạnh khác như: Sự tăng trưởng cộng các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là những nội dung của phát triển (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2016). Phát triển là một quá trình tiến hóa của mọi xã hội, mọi cộng đồng dân tộc trong đó các chủ thể lãnh đạo và quản lý, bằng các chiến lược và chính sách thích hợp với những đặc điểm về lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã hội và cộng đồng dân tộc mình, tạo ra, huy động và quản lý các nguồn lực tự nhiên và con người nhằm đạt được những thành quả bền vững và được phân phối công bằng cho các thành viên trong xã hội vì mục đích không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2016). Có thể hiểu sự phát triển được hình thành bởi nhiều yếu tố, nó là một quá trình thay đổi phức tạp của tập hợp các phạm trù: vật chất, tinh thần, sống, niềm tin, các quan hệ xã hội khác,… Tuy nhiên, phát triển kinh tế được 7 hiểu là sự lớn lên về mọi mặt như: tăng lên về số lượng, tốt hơn về chất lượng, cân đối, hiệu quả, công bằng, đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Về phát triển kinh tế, nó không chỉ tạo ra nhiều hơn về số lượng của cải vật chất, tốt hơn về chất lượng mà còn bao gồm cả phân phối công bằng lợi ích xã hội.
Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ,…) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực thô sơ, tăng tỷ trọng của khu vực chế biến và dịch vụ). Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định (Vũ Thị Ngọc Phùng , 2016). Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia. Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra. Còn phát triển có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội bao gồm cả phân phối công bằng lợi ích xã hội. Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ,…) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực thô sơ, tăng tỷ trọng của khu vực chế biến và dịch vụ).
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2016). Khái niệm sản xuất Sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra. Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất không có sẵn trong tự nhiên nhưng lại rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Sản xuất là quá trình tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục 8 vụ đời sống con người.
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra). Đầu vào của sản xuất bao gồm các yếu tố như lao động, đất đai, máy móc, nguyên vật liệu. Các yếu tố tác động qua lại với nhau. Đầu ra là kết quả của quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như sản phẩm na Mối qua hệ giữa đầu vào và đầu ra được thể hiện Theo Philip Wicksteed: Hàm sản xuất được nhằm chuyển đổi các yếu tố đầu vào để sản xuất ra các sản phẩm cụ thể.xn) Trong đó: Y: Mức sản lượng đầu ra x1, x2,.xn: Các yếu tố đầu vào Việc sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra hợp lý, tuân theo quy luật mới mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Như vậy trong quá trình sản xuất ta cần chú ý đến mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra để kịp thời tác động đến nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất sản phẩm na dai được nâng cao. Trong quá trình sử dụng đầu vào này thường kéo theo việc sử dụng đầu vào khác. Đó là quan hệ bổ trợ giữa các yếu tố đầu vào. Quan hệ thay thế được thể hiện: Khi ta tăng sử dụng đầu vào này thì đồng thời sẽ giảm sử dụng đầu vào khác (Dương văn Hiểu, 2010).
Phát triển sản xuất Phát triển sản xuất (PTSX) là một quá trình sản xuất tăng tiến về quy mô sản lượng và hoàn thiện về cơ cấu. Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế khi tiến hành phát triển sản xuất phải lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? 9 PTSX cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó quy mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường chấp nhận. PTSX có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu. Trong đó: PTSX theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ PTSX không đổi, sử dụng kỹ thuật giản đơn.
Kết quả PTSX đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng diện tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên. PTSX theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trong cả vùng, có thể bao gồm việc tăng số hộ dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân, hoặc cả hai. PTSX theo chiều sâu là giá trị, vốn đầu vào không đổi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế. Như vậy PTSX theo chiều sâu là làm tăng khối lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế sản xuất trên một đơn vị diện tích bằng cách đầu tư thêm giống, vốn, kỹ thuật và lao động.
Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất về sản phẩm. Đồng thời làm thay đổi về qui mô sản xuất, về hình thức tổ chức sản xuất, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hoàn thiện dần từng bước về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu hoàn hảo (Dương Văn Hiểu, 2010). Hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế (HQKT) là cơ sở để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các ngành sản xuất, dựa trên sự tính toán thực tế để thấy được lợi ích kinh tế sẽ thu được.
HQKT là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế chính 10 là tăng cường trình độ, lợi dụng khoa học kỹ thuật vào các nguồn lực sẵn có của các hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội trong thời đại mà nhu cầu vật chất cuộc sống của con người ngày càng tăng cao. Nói một cách khác do yêu cầu của công tác quản lý kinh tế cần thiết phải đánh giá nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế và từ đó xuất hiện các phạm trù HQKT (Đặng Đình Đào, 2002).
HQKT đã được nhiều nhà kinh tế, khoa học tranh luận từ cuối những năm 70 của thế kỷ XIX. Nhưng phải hơn 40 năm sau mới có văn bản pháp quy đánh giá HQKT của vốn đầu tư xây dựng cơ bản và từ đó khái niệm này được quan tâm nghiên cứu và trở thành bộ phận quan trọng của kinh tế chính trị học trong nền kinh tế thị trường (Đặng Đình Đào, 2002). Khi bàn về khái niệm HQKT các nhà kinh tế, khoa học ở nhiều nước, nhiều lĩnh vực có quan điểm nhìn nhận khác nhau. Và được tóm tắt trong ba quan điểm cơ bản sau đây: Quan điểm thứ nhất với nội dung: Cho rằng HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra (các nguồn nhân tài, vật tự, tiền vốn,…) để đạt được kết quả đó.
Trong đó: H: hiệu quả kinh tế Q: kết quả thu được C: chi phí bỏ ra Đại diện cho quan điểm này là Culiop, ông cho rằng “HQKT chính là kết quả của một nền sản xuất nhất định. Do đó chúng ta sẽ so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt hiệu quả đó”. Vì vậy, khi lấy tổng sản phẩm chia cho số vốn sẽ được hiệu suất vốn, tổng sản phẩm chia cho số lao động sẽ được hiệu suất lao động. 11 Như vậy quan điểm thứ nhất này về ưu điểm cơ bản nó đã phản ánh đúng khái niệm HQKT nhưng do nó không phụ thuộc vào quy mô sản xuất nên cách tính trên cho phép so sánh HQKT của các cơ sở sản xuất kinh doanh có quy mô khác nhau.