MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Việt Nam được xác định là một trong 8 cội nguồn của cây chè, có điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu phù hợp cho cây chè phát triển và cho chất lượng cao. Hiện sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt tại 118 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó thương hiệu "CheViet" đã được đăng ký và bảo hộ tại 77 thị trường quốc gia và khu vực.Việt Nam hiện đang là quốc gia đứng thứ 5 trên thế giới về sản lượng cũng như kim ngạch xuất khẩu chè. Cây chè đang được coi là cây trồng chủ lực góp phần xoá đói giảm nghèo, thậm chí còn giúp cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao làm giàu. Không chỉ vậy, cây chè còn giúp phủ xanh đất trống, đồi trọc và bảo vệ môi trường.
Đã từ lâu cây chè được xác định là thế mạnh của Thái Nguyên đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Sản phẩm chè đã trở thành một trong những mặt hàng chiếm vị trí quan trọng của tỉnh. Tỉnh Thái Nguyên là vùng chè trọng điểm của cả nước, đang tập chung sản xuất chè sạch, chè an toàn, nâng cao năng suất, chất lượng, xây dựng chè sạch và đẩy mạnh quảng bá sản phẩm chè. Trong đó diện tích chè tập trung tại các huyện Định Hóa, Võ Nhai, Đại Từ, Đồng Hỷ.
Để tiếp tục khai thác thế mạnh về chè, nghành nông nghiệp Thái Nguyên đang tập chung mọi nguồn lực để đầu tư phát triển cây chè mang lại lợi ích cao nhất cho người nông dân. Trong đó tập chung vào sản xuất chè sạch, chè an toàn, chất lượng tốt cho người tiêu dùng, hướng đến phát triển nghành chè bền vững. Huyện Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía bắc của tỉnh Thái nguyên. Chè Đại Từ là một trong những sản phẩm nổi tiếng của Thái Nguyên với nhiều dòng trà sản phẩm khác nhau, chè Đại Từ được người tiêu dùng biết đến với vị đậm, thơm ngon, mức giá hợp lý.
Toàn huyện có diện tích đất trồng h 2 chè 6333 ha sản lượng 6100 tấn năm 2017, chè được trồng nhiều ở các xã La Bằng, Khuôn Gà, Phú Lạc, Tân Linh, Quân Chu… Cây chè đang thực sự là cây xóa đói, giảm nghèo và làm giàu cho người nông dân Đại Từ. Xã Tân Linh là một xã miền núi nằm ở phía Đông Bắc huyện Đại Từ, cách trung tâm huyên Đại Từ khoảng 7 km là một xã sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp với cây trồng chính là cây chè. Cây trè đã gắn bó với người dân từ nhưng năm 1965, thời điểm đó một số hộ dân từ Thái Bình, Hà Nam… nghe theo tiếng gọi của Đảng đi xây dựng vùng kinh tế mới, lên đây khai hoang trồng lúa, ngô, chè,…với giống chè ban đầu được trồng là giống chè trung du. Đến nay toàn xã có đến 95% số dân làm chè, với diện tích đất trồng chè 599 ha là xã có diện tích đất trồng chè nhiều nhất trong huyện, hiện nay các giống chè mới cho năng suất và chất lượng, sản lượng cao hơn đã được trồng thay thế giống chè hạt truyền thống góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Tuy nhiên trên thực tế địa phương vấn còn 180,4 ha chè trung du chiếm 30% diện tích chè của địa phương, cây chè trung du là cây trồng chính của các hộ, đóng góp vào thu nhập của nhiều hộ tại xã Tân Linh. Xuất phát từ nhưng thực tế trên em đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè Trung du của nông hộ trên địa bàn xã Tân Linh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn sẽ là cơ sở để góp phần đánh giá đúng thực trạng, hiệu quả kinh tế của giống chè trung du được trồng trên địa bàn xã Tân Linh và thấy rõ được các tồn tại để từ đó đề ra các giải pháp phát triển sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất chè. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá được hiệu quả sản xuất chè trung du của nông hộ ở của xã Tân Linh, đưa ra giải pháp nhằm phát triển chè, nâng cao thu nhập cho nông h 3 dân góp phần chiến lược phát triển kinh tế của xã, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa được lý luận và thực tiễn về sản suất chè và hiệu quả kinh tế cây chè nói chúng , cây chè trung du nói riêng trong sản xuất kinh doanh. - Đánh giá được thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế của cây chè trung du, chỉ ra mặt ưu điểm và hạn chế trong việc thâm canh cây chè trung du. - Đề xuất được một số giải pháp kinh tế chủ yếu, nhằm nâng cao hiệu kinh tế của cây chè của xã Tân Linh. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Hoàn thiện các kiến thức đã học trong nhà trường cho bản thân, đồng thời học hỏi các kiến thức thực tế. - Củng cố những kiến thức đã được học để áp dụng vào thực tế và nâng cao hiểu biết của bản thân về địa phương, về phương thức sản xuất của họ. - Biết được cách thu thập và xử lí thông tin của sinh viên trong quá trình nghiên cứu. - Rèn luyện các kỹ năng thu thập xử lý số liệu, viết báo cáo.
Ý nghĩa trong thực tiễn. - Học hỏi các kiến thức thực tế đồng thời đề xuất các giải pháp phù hợp cho việc nâng cao hiệu quả kinh tế của cây chè tại địa phương. - Đề tài mang tính khả thi, có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ UBND xã Tân Linh, và cơ quan liên quan trong việc phát triển kinh tế xã hội và làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khóa sau. h 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Lý luận về hiệu quả kinh tế 2. Khái niệm, bản chất của hiệu quả kinh tế a. Khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định. Từ khái niệm khái quát này, có thể hình thành công thức biễu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như sau: H = K/C (1) Với H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình kinh tế) nào đó; K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình) kinh tế đó và C là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó.
Và như thế cũng có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế. Theo quan niệm như thế hoàn toàn có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng. Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định.
Bản chất của hiểu quả kinh tế Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà sản xuất – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà sản xuất là những gì mà nhà sản xuất đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của nhà sản xuất. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một nhà sản xuất có thể là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần,.
và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của nhà sản xuất, là chất lượng sản phẩm,. Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của nhà sản xuất. Trong khi đó, công thức (1) lại cho thấy trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị.
Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả kinh tế sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường – tiền tệ. Vấn đề được đặt ra là: h 6 hiệu quả kinh tế nói dung và hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả. Sự cần thiết nâng cao hiểu quả kinh doanh Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai sẽ không thành vấn đề bàn cãi nếu nguồn tài nguyên không hạn chế.