CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Khái niệm mô hình Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, con người có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu để tiếp cận. Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu đều có những ưu điểm riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Theo cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan điểm nội dung và cách hiểu riêng. Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình cùng dạng nhưng thu nhỏ lại. Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt đông của một vật để trình bày và nghiên cứu.
Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu Mô hình được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu về một hệ thống các mỗi quan hệ và tình trạng kinh tế. Như vây, mô hình có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu Trong thực tế, để khái quát hóa của sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mỗi quan hệ hay ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi mô hình chỉ đặc trưng cho một n 6 điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau. Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng đến mô phỏng và trình bày là khác nhau.
Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tưởng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm và đều được thống nhất đó là: mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu. Khái niệm đánh giá Đánh giá mô hình là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện mô hình, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của mô hình trong mỗi quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu. [8] Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện được bằng nguồn lực của gia đình, thôn bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được. Trong đánh giá mô hình người ta có thể hiểu như sau: - Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định: + Liệu mô hình có đạt được các kết quả và tác động hay không? + Mức độ mà mô hình đã đạt được so với mục tiêu của mô hình thông qua các hoạt động đã chỉ ra.
- Trong quá trình đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết có khoa học, lập mẫu cho phương pháp thống kê. - Việc đánh giá sẽ tiến hành đo đếm định kỳ theo giai đoạn. - Việc đánh giá sẽ tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động. Đánh giá có nhiều loại khác nhau như sau: * Đánh giá tiền khả thi/ khả thi n 7 Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay mô hình, để xem xét liệu hoạt động hay mô hình có thể thực hiện được hay không trong điều kiện cụ thể nhất định.
Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của mô hình hay hoạt động để làm căn cứ cho phê duyệt xem mô hình hay hoạt động có được đưa và thực hiện hay không? * Đánh giá thực hiện - Đánh giá định kỳ: Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, có những cụ thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho mô hình dài hạn. Tùy theo mô hình có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ , có thể là ba tháng, sau tháng hay một năm một lần.
Mục đích của đánh giá định kỳ là tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có những thay đổi hay điều chỉnh phù hợp cho những giai đoạn tiếp theo. - Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá cuối cùng khi kết thúc mô hình hay hoạt động. Đây là đánh giá toàn diện tất cả các hoạt động và kết quả của mô hình. Mục đích của đánh giá cuối kỳ nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện mô hình.
Những thế mạnh, điểm yếu, những thành công và hạn chế, nguyên nhân của từng vấn đề, đưa ra những bài học cần phải rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho mô hình hay hoạt động khác phù hợp hơn. - Đánh giá tiến độ thực hiện: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai thực hiện các nội dung của mô hình hay cách nói khác là xem xét hoạt động cho đúng thời gian dự định hay không, nhanh hay chậm thế nào. n 8 - Đánh giá tình hình chi tiêu tài chính: là xem xét việc sử dụng kinh phí chi tiêu có đúng nguyên tắc đã được quy định hay không để có điều chỉnh và rút kinh nghiệm. - Đánh giá về tổ chức thực hiện: Đánh giá về tổ chức phối hợp thực hiện giữa các thành phần tham gia, xem xét và phân tích công tác tổ chức, cách phối hợp các thành phần tham gia.
Ngoài ra có thể xem xét việc phối kết hợp giữa các mô hình hay hoạt động trên cùng một địa bàn và hiệu quả của sự phối hợp đó. - Đánh giá kỹ thuật mô hình: Là xem xét lại các kỹ thuật mà mô hình đã đưa vào có phải là mới không, quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đã đặt ra không. - Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường: Hiện nay vần đề môi trường là một vấn đề bức xúc của toàn cầu, vì vây chúng ta cần phải quan tâm đến những vấn đề môi trường. - Đánh giá khả năng mở rộng: Là quá trình xem xét kết quả của mô hình có thể áp dụng rộng rãi, đại trà hay không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì không.
Hiệu quả về kinh tế - Khái niệm cây Dong riềng Để đi đến khái niệm về cây Dong riềng, trên thực tế đã có nhiều quan điểm: - Cho rằng Dong riềng là một ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế quốc dân có chức năng phát triển cho nông nghiệp. Với quan điểm này, Dong riềng chỉ bao gồm các hoạt động về trồng Dong riềng, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý, bảo vệ nhằm cung cấp nông nghiệp đặc sản, mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân. Sản phẩm cuối cùng của cây Dong riềng là tạo ra cho ngành nông nghiệp thành thục công nghệ; đó chỉ là những sản phẩm tiềm năng, chưa thành sản phẩm hàng hoá cuối cùng được trao đổi trên thị trường. n 9 Như vậy, quan điểm thứ nhất đã bộc lộ một số vấn đề tồn tại: + Một là khi đã khẳng định cây Dong riềng là một ngành sản xuất vật chất nhưng sản phẩm cuối cùng lại chưa được lưu thông, trao đổi, mua bán trên thị trường để thu hồi vốn tái sản xuất cho chu kỳ tiếp theo.
Sản phẩm được sản xuất và chế biến, tiêu thụ từ cây Dong riềng lại được thống kê, hoạch toán vào tổng sản phẩm nông nghiệp. + Hai là về phương diện kỹ thuật sản xuất và chế biến, tiêu thụ có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Khai thác được xem là một trong những giải pháp kỹ thuật tiêu thụ quan trọng trong tái sản xuất nông nghiệp. + Ba là về phương diện kinh tế - xã hội, mục đích cuối cùng của xây dựng và phát triển là để thu hoạch và chỉ có thu hoạch mới thu hồi được vốn để tái sản xuất mở rộng thêm cây Dong riềng.
* Một số lý luận chung về hiệu quả kinh tế: - Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế. Chất lượng của các hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình tăng cường khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự nhiên để phục vụ cho lợi ích của con người. - Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế nhằm đạt được mục tiêu là với khối lượng tài nguyên nguồn lực nhất định phải tạo ra sản phẩm hàng hóa có giá trị lớn nhất. Nói cách khác là ở một mức khối lượng và giá trị sản phẩm nhất định thì phải làm thế nào để chi phí sản xuất là thấp nhất.
Như vậy, quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố nguồn lực đầu vào và khối lượng sản phẩm đầu ra, kết quả cuối cùng của mỗi quan hệ này là thể hiện tính hiệu quả kinh tế sản xuất. Với cách xem xét này, hiện nay có nhiều ý kiến thống nhất với nhau về hiệu quả kinh tế. Có thể khái quát hiệu quả kinh tế như sau: n 10 + Hiệu quả kinh tế được biểu hiện là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được với lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là sản phẩm giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các yêu tố nguồn lực đầu vào.
Mối tương quan này được cần xét cả về đối tượng và tuyệt đối, cũng như xét mỗi quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó. Một phương án đúng hay một giải pháp kinh tế kỹ thuật hiệu quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được chi phí bỏ ra được kết quả đó.