Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình trang trại nuôi lợn gia công của ông Dương Công Tuấn tại xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" do sinh viên Phạm Thị Hậu thực hiện năm 2019 tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, chuyên ngành Phát triển nông thôn. Nghiên cứu được đặt trong bối cảnh ngành nông nghiệp Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và phát triển kinh tế trang trại theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới. Mặc dù hình thức chăn nuôi gia công liên kết với doanh nghiệp giúp nông dân giảm thiểu rủi ro biến động thị trường, thực tiễn tại huyện Đại Từ cho thấy các trang trại vẫn đối mặt với nhiều trở ngại: trình độ tổ chức quản lý và kỹ năng hạch toán kinh tế còn hạn chế, vốn đầu tư lớn, nguy cơ dịch bệnh phức tạp và hệ thống xử lý môi trường chưa triệt để.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu chung: Khảo sát thực tế, đánh giá và phân tích cụ thể hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi lợn thịt gia công tại trang trại ông Dương Công Tuấn; nhận diện các tồn tại, nguyên nhân ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bền vững.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Hệ thống hóa quá trình hình thành, tổ chức sản xuất kinh doanh và hiện trạng các nguồn lực (đất đai, lao động, nguồn vốn, cơ sở vật chất) của trang trại.
    • Phân tích quy trình kỹ thuật chăn nuôi, biện pháp an toàn sinh học, lịch tiêm phòng vaccine và hệ thống xử lý môi trường đang áp dụng.
    • Hạch toán các khoản chi phí đầu tư ban đầu, chi phí thường niên và các chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả sản xuất kinh doanh của mô hình liên kết gia công với Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam.
    • Rút ra bài học kinh nghiệm thực tiễn và đề xuất giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện mô hình trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế của mô hình trang trại nuôi lợn thịt gia công thuộc hộ ông Dương Công Tuấn. Phạm vi không gian nghiên cứu đặt tại địa bàn xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/05/2019, cùng với chuỗi số liệu thứ cấp và dữ liệu sản xuất của trang trại thu thập trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận và pháp lý, đề tài dựa trên khung chính sách phát triển kinh tế trang trại của Nhà nước, trọng tâm bao gồm:

  • Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại, xác định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn trong nông nghiệp, nông thôn gắn với chế biến và tiêu thụ.
  • Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/04/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, quy định tiêu chí trang trại chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỷ đồng/năm trở lên.
  • Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.
  • Dự thảo Quyết định năm 2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại (hỗ trợ hạ tầng, giao đất, ứng dụng VietGAP).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu được kết hợp giữa thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp:

  • Thu thập số liệu thứ cấp: Dữ liệu thống kê kinh tế - xã hội từ UBND xã Cát Nê, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đại Từ, các văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo ngành.
  • Thu thập số liệu sơ cấp:
    • Điều tra, phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại và cán bộ kỹ thuật của Công ty C.P. Việt Nam về chi phí, nguồn vốn, quy trình quản lý và chính sách hợp đồng gia công.
    • Phương pháp tiếp cận có sự tham gia (PRA): Tác giả trực tiếp làm việc trong chuồng trại, thực hiện các công việc kiểm tra đàn lợn, vệ sinh, kiểm cám, bón thức ăn, theo dõi điều trị để kiểm chứng thông tin.
    • Phương pháp quan sát trực tiếp quy trình an toàn sinh học và thảo luận nhóm với công nhân, kỹ sư.
  • Phương pháp xử lý và tính toán kinh tế: Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel; hạch toán khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng; áp dụng hệ thống chỉ tiêu tài chính bao gồm: Giá trị sản xuất ($GO = \sum P_i \cdot Q_i$), Chi phí trung gian ($IC = \sum C_{ij}$), Giá trị gia tăng ($VA = GO - IC$), và các tỷ số hiệu quả kinh tế ($GO/IC$, $VA/IC$, $VA/GO$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu và thiết kế nghiên cứu

Tác giả xác lập tính cấp thiết của việc đánh giá mô hình chăn nuôi lợn gia công trong bối cảnh công nghiệp hóa nông nghiệp. Phần này xác định hệ thống mục tiêu chuyên môn, yêu cầu về thái độ và kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên trong quá trình thực tập tốt nghiệp. Tác giả cũng thiết lập khung phương pháp luận bao gồm phương pháp thu thập dữ liệu đa nguồn (sơ cấp, thứ cấp), hệ thống công thức hạch toán kinh tế nông nghiệp và kế hoạch thực địa kéo dài 5 tháng tại xã Cát Nê.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu và đặc điểm địa bàn

Phần này hệ thống hóa lý luận về kinh tế trang trại, phân tích vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn. Tác giả tổng kết các văn bản pháp luật, phân tích những rào cản thực tế của trang trại nông thôn hiện nay như thủ tục giao đất, khó khăn tiếp cận vốn tín dụng do thiếu tài sản thế chấp trên đất thuê, và năng lực quản trị hạch toán còn yếu.

Về địa bàn nghiên cứu, xã Cát Nê có diện tích tự nhiên 2.689,8 ha, dân số 4.013 người phân bố ở 17 xóm, địa hình đồi núi tiếp giáp dãy Tam Đảo, khí hậu trung bình 25–28°C, kinh tế chủ yếu là trồng trọt và lâm nghiệp. Trang trại của ông Dương Công Tuấn được thành lập năm 2014, đi vào hoạt động năm 2015 với quy mô ban đầu 600 con/lứa (1.200 con/năm). Đến năm 2018, trang trại mở rộng lên 6 dãy chuồng kín với quy mô nuôi 3.000 con/lứa (khoảng 6.000 con/năm).

Bộ máy tổ chức trang trại gồm có Công ty C.P. Việt Nam (cung cấp đầu vào, kỹ sư giám sát và bao tiêu đầu ra), Chủ trang trại (quản lý điều hành chung, bảo dưỡng tài sản), Kỹ sư thường trú (quản lý kỹ thuật, thú y, thức ăn), Quản lý cơ sở và đội ngũ công nhân trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Phần 3: Kết quả thực tập và phân tích thực trạng mô hình trang trại

Chương này phản ánh toàn diện các nguồn lực, quy trình vận hành và hạch toán kinh tế của trang trại:

Nguồn lực lao động và đất đai: Lao động thường trực gồm 1 quản lý (Dương Công Hoàng, 23 tuổi, 4 năm kinh nghiệm), 1 kỹ sư chuyên trách của Công ty C.P. (Bùi Quang Vương, 30 tuổi, trình độ kỹ sư), 6 công nhân phổ thông trực tiếp nuôi dưỡng và 4 sinh viên thực tập. Trình độ học vấn của công nhân từ lớp 7/9 đến 12/12, chưa qua đào tạo chuyên môn thú y. Tổng diện tích đất trang trại là 29.586 m², phân bổ thành: khu chuồng nuôi (20.000 m²), nhà kho (175 m²), nhà ở công nhân và điều hành (120 m²), ao sinh học (800 m²), đất trồng cây lâm nghiệp (7.000 m²) và một số diện tích đất trống chưa khai thác.

Tình hình nguồn vốn đầu tư: Quy mô vốn của trang trại tăng trưởng liên tục từ 5 tỷ đồng năm 2016 lên 8 tỷ đồng năm 2017 và đạt 12 tỷ đồng năm 2018. Cơ cấu vốn năm 2018 gồm 8 tỷ đồng vốn tự có (chiếm 66,67%) và 4 tỷ đồng vốn vay ngân hàng (chiếm 33,33%).

Năm Tổng nguồn vốn (tỷ đồng) Vốn tự có (tỷ đồng) Tỷ trọng vốn tự có (%) Vốn vay (tỷ đồng) Tỷ trọng vốn vay (%)
2016 5,0 3,0 60,00 2,0 40,00
2017 8,0 5,0 62,50 3,0 37,50
2018 12,0 8,0 66,67 4,0 33,33

Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản và máy móc thiết bị: Tổng chi phí xây dựng cơ bản ban đầu là 9.175.750.000 đồng, trong đó chi phí xây dựng hệ thống chuồng nuôi khép kín chiếm tỷ trọng lớn nhất với 6.429.000.000 đồng (70,29%). Chi phí đầu tư trang thiết bị kỹ thuật đạt gần 700 triệu đồng, bao gồm hệ thống làm mát bằng quạt hút gió 36 inch và 50 inch, 528 núm uống tự động, 24 tấm giàn mát, 1 cầu cân điện tử (25 triệu đồng), 2 bộ máy vi tính (18 triệu đồng) và 1 trạm máy phát điện dự phòng công suất lớn (150 triệu đồng).

STT Hạng mục công trình Khối lượng / Quy mô Thành tiền (1.000 đồng) Cơ cấu (%)
1 Chi phí san lấp mặt bằng 29.586 m² 800.790 8,73
2 Xây dựng chuồng nuôi 4.500 m² 6.429.000 70,29
3 Nhà ở công nhân, nhà điều hành 120 m² 318.490 3,47
4 Kho cám, nhà sát trùng 175 m² 103.130 1,12
5 Xây dựng bể nước 500 m³ 26.290 0,29
6 Xây dựng bể lắng cát 800 m² 400.390 4,36
7 Hệ thống Biogas bọc bạt 2.500 m³ 300.290 3,27
8 Ao sinh học 800 m² 200.200 2,18
9 Đường giao thông nội bộ 1.400 m² 315.460 3,44
10 Cổng, tường rào bao quanh 2.500 m² 32.360 0,35
11 Giếng khoan khai thác nước 3 cái 210.750 2,30
Tổng Toàn bộ công trình xây dựng - 9.175.750 100,00

Quy trình phòng dịch và chăm sóc nuôi dưỡng: Trang trại áp dụng hệ thống phòng dịch nghiêm ngặt: cổng trại có hố sát trùng nồng độ 1/400 (thay nước/vôi 2 lần/tuần), xe vào trại phải dừng xịt khử trùng tối thiểu 15 phút. Nhà sát trùng cá nhân trang bị 42 béc phun áp lực mạnh với công suất bơm 750W theo nồng độ hóa chất 1/3200; hành lang chuồng được quét vôi 1 lần/tuần và phun sát trùng toàn trại 3 lần/tuần. Hạn chế tối đa mùi hôi bằng chế phẩm men vi sinh Bio-Ems.

Lợn giống nhập từ Công ty C.P. khi đạt thể trọng trung bình 6 kg/con (đã bấm nanh, cắt đuôi) và nuôi trong khoảng 4 tháng đạt trọng lượng xuất chuồng bình quân 108 kg/con. Lịch làm vaccine bắt buộc theo độ tuổi của đàn lợn:

Tuần tuổi Loại vaccine thực hiện Liều lượng (ml/con) Mục đích phòng bệnh
Tuần 5 Dịch tả (CSF) 2 Phòng bệnh dịch tả lợn cổ điển
Tuần 6 Giả dại (Bengonia) 2 Phòng hội chứng giả dại
Tuần 7 Lở mồm long móng (FDM) 2 Phòng bệnh lở mồm long móng lần 1
Tuần 9 Dịch tả (CSF) 2 Tái chủng vaccine dịch tả lần 2
Tuần 11 Lở mồm long móng (FDM) 2 Tái chủng vaccine LMLM lần 2

Sau 21 ngày tiêm, kỹ sư lấy ngẫu nhiên 5 mẫu máu/chuồng gửi về phòng xét nghiệm của Công ty C.P. để kiểm tra nồng độ kháng thể; nếu tỷ lệ bảo hộ đạt dưới 60% thì phải tái tiêm cho toàn đàn.

Chế độ dinh dưỡng sử dụng 100% thức ăn hỗn hợp do C.P. sản xuất theo từng giai đoạn tăng trưởng: cám 550P (2 ngày tuổi – 8 kg), 550SF (5 ngày tuổi – 12 kg), 551F (5 ngày tuổi – 20 kg), 552SF (25 kg – 60 kg), 552FX (60 kg – 80 kg), và 553F (80 kg đến xuất chuồng). Mức tiêu thụ thức ăn trung bình dao động từ 2,4 đến 3,0 kg/con/ngày.

Nhiệt độ chuồng kín được điều tiết nghiêm ngặt theo tuổi lợn: tuần 4 (32–33°C), tuần 5 (31–32°C), tuần 6 (30–31°C), tuần 7 (29–30°C), tuần 8–16 (28–29°C), từ tuần 16 đến xuất chuồng duy trì 27–28°C. Quạt thông gió luôn được vận hành tối thiểu 20% công suất kể cả trong mùa lạnh để đảm bảo lưu thông dưỡng khí.

Xử lý chất thải bảo vệ môi trường: Phân và nước thải rửa chuồng được thu gom qua hệ thống ống nhựa PVC phi 220 dẫn về bể Biogas yếm khí dung tích 1.000 m³ để tạo khí gas metan ($CH_4$) phục vụ đun nấu sinh hoạt. Nước thải tràn từ bể Biogas chuyển sang bể lắng trung hòa giảm tính axit rồi dẫn qua ao sinh học 450 m³ để xử lý lắng lọc tự nhiên trước khi xả ra môi trường bên ngoài.

Cơ chế hợp đồng và chuỗi tiêu thụ sản phẩm: Công ty C.P. Việt Nam chịu trách nhiệm cung cấp 100% con giống, thức ăn công nghiệp, thuốc thú y, vaccine, cử kỹ sư trực tiếp quản lý kỹ thuật và bao tiêu toàn bộ lợn thịt đầu ra. Trang trại tự đầu tư quỹ đất, hạ tầng chuồng trại, hệ thống xử lý môi trường, chi trả tiền điện, nước và nhân công chăm sóc. Công ty trả tiền công chăn nuôi gia công cho trang trại ở mức từ 3.000 đồng/kg thịt lợn hơi xuất chuồng.

Sản phẩm sau xuất chuồng đi qua 3 kênh tiêu thụ:

  • Kênh 1 (Xuất khẩu): Chiếm 80% sản lượng, xuất sang các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc; giá bán cao hơn thị trường nội địa khoảng 4.000 đồng/kg.
  • Kênh 2 (Giết mổ nội địa): Chiếm 20% sản lượng thông qua mạng lưới lò mổ thương phẩm trong nước, giá dao động khoảng 35.000 đồng/kg.
  • Kênh 3 (Chế biến sâu): Chuyển vào các nhà máy chế biến của Công ty C.P. thành xúc xích, lạp xưởng, đồ hộp phân phối qua hệ thống bán lẻ và siêu thị.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu làm rõ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mô hình qua hai mốc thời gian quy mô:

Giai đoạn sản xuất Quy mô đàn (con/năm) Sản lượng lợn hơi (tấn/năm) Giá trị sản xuất GO (tỷ đồng) Doanh thu công nuôi trang trại thu được (tỷ đồng) Lợi nhuận ròng của trang trại (tỷ đồng/năm)
2015 – 2017 1.200 180 7,2 0,630 -
2018 – nay 6.000 900 36,0 3,150 2,000

Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Tác giả đã tổng hợp chi tiết bài toán kinh tế chăn nuôi gia công: mô hình giúp người nuôi hạn chế hoàn toàn rủi ro biến động giá thức ăn và giá thịt lợn hơi trên thị trường tự do nhờ cơ chế gia công ổn định theo đơn giá thỏa thuận (từ 3.000 đồng/kg xuất chuồng).
  • Chỉ ra cơ cấu chi phí vận hành thường niên của trang trại chủ yếu tập trung vào chi phí nhân công, khấu hao chuồng trại máy móc, điện nước và chi phí trả lãi vốn vay ngân hàng (vốn vay 4 tỷ đồng).
  • Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả:
    • Tận dụng diện tích đất trống và khu đất lâm nghiệp 7.000 m² để phát triển mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp, trồng cây ăn quả và cải tạo mặt nước nuôi cá nhằm cung cấp thực phẩm tại chỗ cho công nhân, giảm lãng phí tài nguyên đất.
    • Tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại chỗ, thiết lập quy chế giám sát công việc rõ ràng để giảm tỷ lệ công nhân tự ý nghỉ việc.
    • Đầu tư nâng cấp công suất hệ thống xử lý nước thải vì bể lắng và ao sinh học hiện tại có biểu hiện quá tải khi trang trại tăng đàn lên 6.000 con/năm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế nội tại trong quá trình thực hiện đề tài:

  • Thời gian nghiên cứu và thực tập kéo dài 5 tháng (01/2019 – 05/2019), chỉ đủ theo dõi trọn vẹn hơn một chu kỳ nuôi lợn thịt thương phẩm (khoảng 4 tháng/lứa), chưa đánh giá được đầy đủ biến động qua các mùa trong năm.
  • Khóa luận chưa thể thu thập được bảng số liệu chi tiết về chi phí trung gian (IC) phân tách từng tháng và các chỉ số hiệu quả kinh tế mở rộng do tính chất bảo mật hợp đồng của doanh nghiệp mẹ (phần chi phí thức ăn, thuốc thú y được C.P. quản lý nội bộ).
  • Hệ thống xử lý chất thải của trại vẫn xảy ra tình trạng rò rỉ nước thải chưa xử lý triệt để ra môi trường khi thời tiết mưa lớn cục bộ.

Hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ thực địa gồm:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường khi trang trại thực hiện phương án nâng quy mô lên 12.000 con lợn thịt/năm.
  • Nghiên cứu mô hình hoàn thiện chu trình kinh tế tuần hoàn: khai thác phụ phẩm khí sinh học Biogas để chạy máy phát điện thay vì chỉ đun nấu, sử dụng bã thải bùn ao sinh học làm phân bón hữu cơ cho vùng trồng cây ăn quả tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên và giảng viên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Chăn nuôi - Thú y: Nguồn tư liệu nghiên cứu điển hình về quy trình tổ chức một trang trại chăn nuôi gia công khép kín liên kết với doanh nghiệp FDI quy mô lớn.
  • Các hộ nông dân và chủ trang trại: Tài liệu tham khảo có giá trị cao ở các bảng dự toán danh mục đầu tư xây dựng cơ bản (Bảng 3.4) và danh mục máy móc thiết bị (Bảng 3.5), giúp người có ý định lập trại hình dung chính xác quy mô vốn cần thiết (trên 9,8 tỷ đồng cho hạ tầng ban đầu đối với quy mô 3.000 lợn/lứa).
  • Cán bộ khuyến nông và quản lý kinh tế cơ sở: Tham khảo quy trình an toàn sinh học bằng hệ thống sát trùng 3 cấp độ, lịch trình vaccine 5 đợt bắt buộc và cơ chế kiểm tra hiệu giá kháng thể đàn lợn.

Câu hỏi thường gặp

1. Trách nhiệm và quyền lợi kinh tế giữa trang trại Dương Công Tuấn và Công ty C.P. Việt Nam được phân chia như thế nào? Công ty C.P. cung cấp 100% lợn giống (trung bình 6 kg/con), thức ăn công nghiệp, thuốc thú y, vaccine, cử kỹ sư chuyên trách quản lý kỹ thuật và bao tiêu toàn bộ lợn thương phẩm. Trang trại đầu tư toàn bộ mặt bằng (29.586 m²), xây dựng chuồng kín (6.429 triệu đồng), mua sắm thiết bị, hệ thống Biogas, trả tiền điện, nước và nhân công chăm sóc. Trang trại được trả công nuôi gia công từ 3.000 đồng trên mỗi kilôgam lợn hơi khi xuất chuồng.

2. Tổng vốn đầu tư ban đầu của trang trại Dương Công Tuấn là bao nhiêu và được chi trả cho những hạng mục chính nào? Tính đến năm 2018, tổng nguồn vốn của trang trại là 12 tỷ đồng (vốn tự có 8 tỷ chiếm 66,67%; vốn vay ngân hàng 4 tỷ chiếm 33,33%). Trong đó, chi phí xây dựng cơ bản chiếm 9.175.750.000 đồng (chuồng nuôi chiếm lớn nhất 70,29% tương đương 6,429 tỷ đồng; san lấp mặt bằng chiếm 800,79 triệu đồng). Chi phí mua sắm thiết bị ban đầu đạt gần 700 triệu đồng (máy phát điện 150 triệu, 24 tấm giàn mát 86,8 triệu, 12 quạt hút gió 36 inch 54,8 triệu, cân điện tử 25 triệu, máng ăn và hệ thống 528 núm uống tự động).

3. Quy trình tiêm phòng vaccine bắt buộc cho đàn lợn thịt tại trang trại được thực hiện vào các mốc thời gian nào? Đàn lợn được tiêm phòng 5 đợt định kỳ với liều lượng 2 ml/con: tuần tuổi thứ 5 tiêm vaccine Dịch tả (CSF); tuần thứ 6 tiêm vaccine Giả dại (Bengonia); tuần thứ 7 tiêm vaccine Lở mồm long móng (FDM); tuần thứ 9 tiêm nhắc lại vaccine Dịch tả; tuần thứ 11 tiêm nhắc lại vaccine Lở mồm long móng. Sau 21 ngày kể từ khi làm vaccine, trang trại lấy ngẫu nhiên 5 mẫu máu mỗi chuồng gửi về công ty xét nghiệm; nếu tỷ lệ bảo hộ dưới 60% thì phải tiêm lại.

4. Khâu xử lý chất thải chăn nuôi của trang trại được vận hành theo nguyên lý nào và dung tích các công trình là bao nhiêu? Chất thải và nước rửa chuồng được thu gom bằng đường ống nhựa PVC phi 220 chảy vào bể Biogas yếm khí dung tích 1.000 m³ (trong bảng dự toán ghi quy mô bọc bạt 2.500 m³) để phân hủy kỵ khí sinh khí metan ($CH_4$) làm chất đốt đun nấu. Nước tràn sau đó chảy qua bể lắng trung hòa tính axit và dẫn vào ao sinh học dung tích 450 m³ (diện tích mặt thoáng 800 m²) để phân hủy sinh học trước khi xả ra môi trường.

5. Sản lượng và hiệu quả sản xuất của trang trại thay đổi ra sao khi mở rộng quy mô vào năm 2018? Giai đoạn 2015–2017, trang trại nuôi 1.200 con/năm, xuất bán 180 tấn lợn hơi, tổng giá trị hàng hóa 7,2 tỷ đồng, doanh thu công nuôi thu về đạt 630 triệu đồng/năm. Từ năm 2018, quy mô nâng lên 6.000 con/năm, sản lượng đạt 900 tấn lợn hơi, tổng giá trị sản xuất tương đương 36 tỷ đồng, số tiền công nuôi trang trại thu được đạt 3,150 tỷ đồng/năm và lợi nhuận trang trại đạt 2 tỷ đồng/năm.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Phạm Thị Hậu đã hệ thống hóa và hạch toán toàn diện mô hình trang trại nuôi lợn thịt gia công liên kết với Công ty C.P. Việt Nam tại xã Cát Nê, huyện Đại Từ. Các dữ liệu thực địa phản ánh rõ nét hiệu quả của phương thức chăn nuôi liên kết chuỗi giá trị trong việc kiểm soát dịch bệnh, giải quyết việc làm và đảm bảo thu nhập ổn định cho người chăn nuôi thông qua việc chuyển giao công nghệ và bao tiêu đầu ra. Đồng thời, đề tài đã chỉ ra bài toán cân đối vốn đầu tư lớn và yêu cầu cấp bách trong việc nâng cấp hệ thống xử lý chất thải sinh học khi mở rộng quy mô đàn lợn lên mức công nghiệp.