ĐẶT VẤN ĐỀ Trong giai đoạn hiện nay, phát triển rừng trồng nguyên liệu phục vụ công nghiệp theo hƣớng thâm canh đang là một xu hƣớng phát triển có khả năng rút ngắn chu kỳ kinh doanh, đem lại giá trị kinh tế cao, tạo thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp Lâm nghiệp. Để theo kịp những đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trƣờng lâm sản trong thời đại công nghiệp thì các doanh nghiệp Lâm nghiệp cần giải quyết rất nhiều vấn đề đặt ra nhƣ: Huy động vốn, cải thiện giống cây rừng, giải pháp kỹ thuật tiên tiến và đồng bộ, vv. Có thể khẳng định rằng Keo lai đang là một lựa chọn đem lại nhiều ƣu điểm nổi trội, đáp ứng đƣợc yêu cầu của trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp hiện nay nhƣ: Gỗ Keo lai thẳng thớ, chắc, ít bị cong vênh, nứt nẻ và ít mấu mắt nên rất đƣợc ƣa chuộng. Rừng trồng Keo lai sau 6 - 8 năm có thể thu đƣợc 150 - 200 m3gỗ/ha, nhiều nơi có thể hơn 250 m3/ha.
Nhiều chủ rừng đang sử dụng Keo lai để trồng rừng kinh doanh gỗ lớn, với luân kỳ 10 - 12 năm đã có thể thu sản phẩm đạt khoảng 250 - 300 m3/ha. Công ty Lâm nghiệp Xuân Đài nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn, Phú Thọ là đơn vị trực thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam, trong thời gian quan đã đạt đƣợc nhiều thành công trong phát triển các mô hình rừng trồng nguyên liệu phục vụ công nghiệp ở khu vực phía Bắc, với nhiều loài cây mọc nhanh nhƣ: Keo, Mỡ, Bạch đàn, vv. Từ năm 2013 Công ty đã thử nghiệm xây dựng mô hình rừng trồng Keo thuần loài đều tuổi bằng cây con có có nguồn gốc từ nuôi cấy mô tế bào, giâm hom và từ hạt. Cho đến nay việc so sánh, đánh giá tình hình sinh trƣởng và hiệu quả của các mô hình này là một yêu cầu kỹ thuật cần thiết.
Đó là lý do chính để lựa chọn đề tài: “Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế một số mô hình rừng trồng Keo tại Công ty lâm nghiệp Xuân Đài, huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ”. c 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤNĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Keo lai (Acacia hybrid) là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tƣợng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Keo lai là cây gỗ lớn, mọc nhanh và có phạm vi phân bố rộng.
Có giá trị cung cấp gỗ dùng trong xây dựng, đóng đồ mộc, đồ thủ công mỹ nghệ và dùng đóng các đồ gia dụng, làm nguyên liệu giấy hoặc làm củi. Giống Keo lai (Acacia mangium x A.auriculiformis) đã đƣợc Messir Herburn ghi nhận lần đầu vào năm 1972, đến năm 1978 mới đƣợc Pedkey xác định là giống lai. Nghiên cứu của Rufelds (1987) cho thấy rằng tại miền Bắc Sabah (Malaysia) cây lai đã xuất hiện từ rừng Keo tai tƣợng với mức 3 - 4 cây/ha còn Wong thì thấy xuất hiện ở tỉ lệ 1/500. Theo các tác giả Turn bull (1986) vàGrinfin(1988) thì trong tự nhiên, Keo lai cũng đƣợc phát hiện ở Papu New Guinea (Lê Đình Khả, 1997).
Theo Cyril Pinso và Robert Nasi thì tại Ulu Kukut cây lai tự nhiên đời F1 sinh trƣởng khá hơn các xuất xứ của Keo tai tƣợng ở Sabah. Các tác giả này cũng xác nhận rằng gỗ của Keo lai có phần tốt hơn Keo tai tƣợng. Tại Thái Lan (Kij Kar,1992), Keo lai đƣợc tìm thấy ở vƣờn ƣơm Keo tai tƣợng (lấy giống từ Malaysia) tại trạm nghiên cứu Jon – Pu của Viện nghiên cứu Lâm nghiệp Đài Loan (Kiang Tao et al,1989). Trong giai đoạn vƣờn ƣơm Keo lai hình thành lá giả (Phylod) sớm hơn Keo tai tƣợng và muộn hơn Keo lá tràm, (Lê Đình khả, 1997) [9].
Hiện nay, trên thế giới Keo lai đƣợc trồng ở nhiều quốc gia nhƣ Australia, Papua New Guinea, Malaysia, Philippin, vv. bởi Keo lai phù hợp với nhiều điều kiện sinh thái, cây phát triển nhanh, trong một chu kỳ cho sinh khối gỗ lớn hơn các loài Keo khác và chất lƣợng gỗ cũng tốt hơn. c 3 Để phục vụ phát triển rừng trồng kinh tế, nhiều thành tựu khoa học và tiến bộ kĩ thuật đã đƣợc áp dụng, trong đó nổi bật nhất là công tác cải thiện giống và kĩ thuật thâm canh rừng trồng trên thế giới đã có rất nhiều nƣớc đi sâu nghiên cứu vấn đề này điển hình là các nƣớc Công Gô, Brazil, Malaysia, vv. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc Keo lá tràm và Keo tai tƣợng đƣợc nhập vào nƣớc ta từ những năm 1960 nhƣng đến đầu những năm 90, giống Keo lai mới đƣợc phát hiện và nghiên cứu ở nƣớc ta.
Giống Keo lai ở Ba Vì có nguồn gốc cây mẹ là Keo tai tƣợng xuất xứ Pain-tree bang Queensland – Australia. Cây bố là Keo lá tràm xuất xứ Darwin bang Northern Territory – Australia. Ở Đông Nam Bộ hạt giống lấy từ cây mẹ Keo tai tƣợng xuất xứ Mossman và cây bố Keo lá tràm cũng ở Australia nhƣng không rõ xuất xứ. Về cơ bản các giống Keo lai đã phát hiện ở nƣớc ta đều có cây mẹ cùng vùng sinh thái giống nhau: Vĩ độ 12o20’-16o20’ Bắc, kinh độ 132o16’-145o30’ Đông, lƣợng mƣa 800-1900mm.
Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng đã thấy Keo lai có hình thái lá, vỏ cây, quả và hạt cũng nhƣ có tỷ trọng gỗ trung gian giữa Keo tai tƣợng và Keo lá tràm (Lê Đình Khả và cộng sự, 2003) [15], trong khi có sinh trƣởng nhanh gấp 1,5-3,0 lần các loài Keo bố mẹ nên có tiềm năng bột giấy cao hơn (Lê Đình Khả và cộng sự, 1995) [10]; Lê Đình Khả và cộng sự, 1999) [12]. Keo lai cũng có lƣợng nốt sần và có khả năng cải tạo đất cao hơn các loài Keo bố mẹ (Lê Đình Khả và cộng sự, 2000) [14]. Khi nghiên cứu sự thoái hóa và phân ly của cây Keo lai, Lê Đình Khả (1997) [6] đã khảng định: không nên dùng hạt cây Keo lai để trồng rừng mới. Keo lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và tƣơng đối đồng nhất, đến đời F2 Keo lai có biểu hiện thoái hóa và phân ly khá rõ rệt, cây lai F2 sinh trƣởng kém hơn cây lai F1 và có biến động lớn về sinh trƣởng.
Do đó, để phát triển giống Keo lai vào sản xuất thì phải dùng phƣơng pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi c 4 cấy mô từ những dòng Keo lai tốt nhất đƣợc công nhận là giống quốc gia và giống tiến bộ kĩ thuật. Một số nghiên cứu trong nƣớc liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu về sinh trưởng của cây keo lai Nghiên cứu so sánh tại rừng trồng ở Ba Vì đã cho thấy lúc 2,5 tuổi keo lai có chiều cao 4,5m, đƣờng kính ngang ngực trung bình từ 5,21cm, trong khi keo tai tƣợng có chiều cao là 2,77m và đƣờng kính là 2,63m (Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Nguyễn Đình Hải, 1993) [9]. Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Giao cho thấy khảo nghiệm tại Ba Vì (Hà Tây) ở phƣơng thức thâm canh keo lai 78 tháng tuổi chiều cao vút ngọn trung bình 15m, đƣờng kính trung bình D1.3 là 14,3cm, thể tích thân cây keo lai đạt 172,2dm3/cây, gấp 1,42 – 1,48 lần keo tai tƣợng và gấp 5,6 – 10,5 lần thể tích keo lá tràm.
Khảo nghiệm tại Bình Thanh (Hoà Bình) ở công thức thâm canh 7 tuổi chiều cao trung bình keo lai là 22,3m, đƣờng kính trung bình D1.3 là 20,7cm, thể tích thân cây keo lai đạt 383,1dm3/cây ở công thức quảng canh keo lai có chiều cao 22,9m, đƣờng kính D1.3 là 19,3cm, còn thể tích thân cây là 344,2 dm3/cây. Khảo nghiệm tại Đại Lải (Vĩnh Phúc) ởđất đồi lateritic nghèo dinh dƣỡng, có mùa đông lạnh, sau 6 năm tuổi ở công thức thâm canh Hvn trung bình đạt 15,5m, D1.3 trung bình 11,7cm, thể tích thân cây đạt 86,2dm3/cây, trong khi đó thể tích thân cây keo tai tƣợng là 16,2 – 31,3dm3/cây. Khảo nghiệm tại Đông Hà (Quảng Trị) cho thấy ở 5,5 tuổi Hvn keo lai là 16,7m, D1.3 trung bình 17,2cm, thể tích thân cây là 202,2dm3/cây. Những nghiên cứu về năng suất và sản lượng keo lai.
Nghiên cứu giống Keo lai và vai trò các biện pháp thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998)[11]cho thấy cải thiện giống và các biện pháp thâm canh đều có vai trò c 5 quan trọng trong tăng năng suất rừng trồng. Muốn tăng năng suất rừng trồng cao, nhất thiết phải áp dụng tổng hợp các biện pháp cải thiện giống và các biện pháp thâm canh khác. Kết hợp giữa giống đƣợc cải thiện với các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh mới tạo đƣợc năng suất cao trong sản xuất lâm nghiệp. Các giống keo lai đƣợc lựa chọn qua khảo nghiệm có năng suất cao hơn rất nhiều so với các loài bố mẹ.
Ví dụ tại Cẩm Quỳ (Ba Vì – Hà Tây) khi đƣợc trồng ở điều kiện thâm canh (có cày đất và bón phân thích hợp) thì ở giai đoạn hai năm tuổi Keo lai có thể tích 19,6dm3/cây. Trong lúc các loài keo bố mẹ trồng cùng điều kiện lập địa ở công thức quảng canh có thể tích thân cây 4,7dm3/cây. Trong khi các loài bố mẹ trồng cùng điều kiện thâm canh nhƣ vậy thì thể tích thân cây chỉ đạt 2,7 - 6,1dm3/cây, còn công thức quảng canh chỉ đạt 0,6 – 1,2dm3/cây (Lê Đình Khả, 1997;1999). Nghiên cứu về trồng rừng thâm canh Vào những năm 1980, bên cạnh những nƣớc phát triển về trồng rừng thâm canh nhƣ Đức, Ý, Thụy Điển, vv.
thì ở Việt Nam vấn đề này cũng đƣợc quan tâm và đƣa ra thảo luận, điển hình nhƣ Nguyễn Xuân Xuyên (1985), Phạm Chiến (1986), Vũ Đình Huề (1986), Phùng Ngọc Lan (1986). Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [16], thâm canh rừng trồng là nhằm bảo vệ và sử dụng triệt để các điều kiện về tài nguyên, đất đai, khí hậu, sinh vật và áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại có liên quan nhằm nâng cao năng suất và lợi ích kinh tế. Thâm canh rừng trồng đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp kĩ thuật lâm sinh một cách liên hoàn từ khâu chọn giống, kĩ thuật gây trồng, chăm sóc, tỉa thƣa, vv. Công trình nghiên cứu cấp nhà nƣớc của tác giả Nguyễn Huy Sơn và các cộng sự (2006) [20], kết quả bƣớc đầu đã cho thấy có thể nâng cao năng suất rừng trồng từ 20m3/ha/năm lên đến 36m3/ha/năm ở khu vực Đông Nam Bộ và dự đoán có thể đạt năng suất 30m3/ha/năm ở khu vực Đông Bắc bộ.
c 6 Một số nơi Keo lai sinh trƣởng nhanh là Hàm Yên (Tuyên Quang), Bình Thanh (Hòa Bình), Đông Hà (Quảng Trị), Long Thành (Đồng Nai),vv. sau 5-7 năm trồng có thể đạt năng suất 43-45 m3/ha/năm.