Chương 1 Luan van 4 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về hiệu quả kinh tế HQKT là chỉ tiêu phản ánh kết quả của qúa trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nó xem xét sự kết hợp các nhân tố đầu vào để tạo ra một mức sản lượng nhất định với chi phí bỏ ra ít nhất. HQKT cũng phản ảnh mức độ khai thác hiệu quả các nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh như lao động, nhiên vật liệu, vốn, trình độ khoa học công nghệ… để đạt được mục tiêu tối đa hoá các lợi nhuận. Có nhiều quan điểm về HQKT như sau: Theo quan điểm của Mác- Lenin thì mọi sự vật và hiện tượng đều có quan hệ ràng buộc và tác động qua lại lẫn nhau.
Mọi hoạt động của quá trình sản xuất kinh doanh có mối quan hệ mật thiết, chúng tác động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi kết quả sản xuất kinh doanh. Nhược điểm của quan điểm này là chỉ xem xét đến phần tăng thêm của kết quả và chi phí chứ không xem xét đến kết quả và chi phí ban đầu. Như vậy quan điểm này chỉ đánh giá được hiệu quả của phần kết quả sản xuất mà không thể đánh giá toàn bộ hiệu quả sản xuất kinh doanh. Adam Smith là nhà kinh tế học người Anh có quan điểm rằng "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá".
Dự trên quan điểm đồng nhất giữa kết quả sản xuất kinh doanh với hiệu quả sản xuất. Quan điểm này chỉ ra kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào. Hạn chế của quan điểm này chính là khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng lên do mở rộng các nguồn lực hay do chi phí sản xuất thì không thể phản ánh được. Như vậy nếu cùng một kết quả sản xuất kinh doanh có hai mức chi phí khác nhau thì quan điểm này cũng có hiệu quả (Nguyễn Ngọc Châu, 2012).
Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế Luan van 5 Bản chất của HQKT là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh và phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vật liệu, vốn, lao động, thiết bị máy móc…) để đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Cần phân biệt rõ khái niệm hiệu quả sản xuất và kết quả của hoạt động sản xuất. Kết quả là những gì mà doanh nghiệp có thể đạt được sau một chu kỳ sản xuất và nó bao gồm lợi nhuận , doanh thu… và phản ánh mục tiêu mà doanh nghiệp muốn hướng tới là tối đa hoá lợi nhuận và uy tín của doanh nghiệp. Trong khi đó hiệu quả sản xuất kinh doanh sử dụng cả chỉ tiêu kết quả đầu ra và chi phí nguồn lực đầu vào để đánh giá hiệu quả sản xuất.
Trong thực tế thì cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều được xác định bằng đơn vị hiện vật và giá trị, tuy nhiên sẽ gặp phải khó khăn là giá trị đầu vào và đầu ra không có cùng đơn vị đo vì vậy để có thể đo lường giá trị được quy về cùng đơn vị đo lường là tiền tệ (Nguyễn Quốc Nghi, 2011). Phân loại hiệu quả kinh tế 1. Phân loại theo yếu tố cấu thành Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng trong các nguồn lực sản xuất để tạo ra sản phẩm với giá trị cận biên bằng chi phí cận biên. Hiệu quả kỹ thuật là số lượng sản phẩm đầu ra từ nguồn lực đầu vào được áp dụng trình độ công nghệ và kỹ thuật trong sản xuất HQKT bao gồm cả hiệu quả phân bổ và hiệu quả kỹ thuật.
Phân loại theo mức độ khái quát Hiệu quả xã hội: là giữa kết quả giữa chi phí phải bỏ ra và kết quả để đạt được. Hiệu quả xã hội: là xem xét kết quả của các hoạt động kinh tế trên khia cạnh phục vụ lợi ích chung cho xã hội như xoá đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho các lao động địa phương, đảm bảo an ninh- xã hội… Hiệu quả môi trường: là kết quả của việc bảo vệ môi trường như xử lý vấn đề Luan van 6 khí thải và nước thải, giảm ô nhiễm đất, nước, tăng độ che phủ mặt đất… Trong các loại hiệu quả kể trên thì HQKT là một trong những hiệu quả quan trọng nhất và khi nhắc đến HQKT là bao gồm cả hiệu quả về môi trường và xã hội (Nguyễn Mạnh Hùng, 2013). Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thịt theo hình thức bán chăn thả 1. Vai trò của ngành chăn nuôi gà thịt theo hình thức bán chăn thả Chăn nuôi gia cầm là nghề có từ rất lâu đời với các hộ gia đình sống tại nông thôn, thực tế đã chứng minh chăn nuôi gia cầm đem lại nguồn thu nhập với chu kỳ sản xuất ngắn ngày, sản lượng thịt, trứng nhiều hơn so với các vật nuôi khác và đạt hiệu quả cao trong thời gian ngắn nhất.
Các hình thức chăn nuôi nông hộ, trang trại, bán công nghiệp và thả vườn phù hợp với điều kiện khí hậu, cơ sở vật chất và phong tục tập quán của từng vùng nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng đáp ứng được với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường. Sản phẩm của chăn nuôi có giá trị dinh dưỡng cao như trứng gia cầm có chứa 12,5% protein, thịt gia cầm có 22,5% protein trong khi đó thịt lợn chỉ chứa có 18% protein và thịt bò là 20% protein. Sản phẩm thịt gia cầm dễ chế biến và phù hợp với nhiều đối tượng và lứa tuổi khác nhau, tỷ lệ đồng hoá cao. Chăn nuôi gà lấy thịt cũng là một trong những hình thức trong chăn nuôi gia cầm.
Hiện nay chăn nuôi gà lấy thịt đã và đang có những bước thay đổi đáng kể trong tư duy và cách làm của những người chăn nuôi. Ngoài mục đích tự cung tự cấp các sản phẩm chăn nuôi cho hộ gia đình, hiện nay để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, các hộ chăn nuôi và trang trại cần phải trang bị những kiến thức, kỹ năng và nguồn tài chính vững vàng để có thể áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật , quản lý và nâng cao hiệu quả chăn nuôi (Nguyễn Lê Hiệp, 2016). * Vai trò chăn nuôi gà thịt: - Chăn nuôi gà thịt đóng góp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho người dân Luan van 7 Là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, giàu vitamin cần thiết cho cơ thể, nhiều năng lượng, phù hợp với trẻ nhỏ, người bệnh và người già. Sản phẩm thịt gà dễ chế biến thành những món ăn đa dạng và giàu dinh dưỡng và được ưa chuộng sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới như trong các cửa hàng thức ăn nhanh nổi tiếng như KFC, Jollibee, McDonald… - Chăn nuôi gà thịt góp phần làm giảm thất nghiệp, tăng thu nhập cho người dân và nâng cao chất lượng cuộc sống Theo nghiên cứu của tổ chức FAO, trên thế giới hiện nay có khoảng 3/4 người nghèo, sống ở vùng nông thôn và sinh kế của họ là dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong đó chăn nuôi gà thịt là góp phần quan trọng vào những hoạt động sinh kế này (FAO, 2020).
CNGT góp phần quan trọng làm giảm thất nghiệp, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, đặc biệt cho người nghèo. Theo tổng cục thống kê năm 2020 hiện nay trên cả nước có khoảng 7,86 triệu hộ chăn nuôi gà, chiếm 82% trong tổng số hộ làm nông nghiệp. Chăn nuôi có ý nghĩa kinh tế quan trọng trong nông nghiệp và góp phần cải thiện kinh tế nông hộ, tạo việc làm và khắc phục tính chất thời vụ trong nông nghiệp, cải thiện mức sống của người dân vùng nông thôn. Theo như báo cáo, tỷ lệ hộ chăn nuôi gà thịt trên cả nước chiếm khoảng 5% trong tổng thu nhập của các hộ dân, chiếm 27% trong tổng thu nhập từ chăn nuôi ở các tỉnh phía Bắc và chiếm 18% ở các tỉnh đồng bằng sông Mê Kông.
Đặc biệt đối với các hộ nghèo thì tỷ lệ các hộ có nguồn thu từ chăn nuôi gà thịt lại càng lớn Chăn nuôi góp phần khai thác hiệu quả các nguồn lực Một số quốc gia với nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thì đa số các hoạt động sản xuất nông nghiệp như chăn nuôi và trồng trọt góp phần quan trọng trọng việc khai thác và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, đặc biệt là lao động thời vụ. Luan van 8 Đặc điểm các hoạt động sản xuất nông nghiệp là có tính thời vụ cao, các nguồn lực không được khai thác hiệu quả vì vậy chăn nuôi là một trong những biện phải có thể khai thác và sử dụng thường xuyên các nguồn lực này, đảm bảo việc hạn chế các lao động thời vụ. Các sản phẩm của nông nghiệp thường tạo ra nhiều sản phẩm phụ thu, các sản phẩm này thường không có giá trị kinh tế và khó tiêu thụ. Nhưng những sản phẩm này lại được sử dụng trong chăn nuôi và là nguồn thu nhập đáng kể (Nguyễn Lê Hiệp (2016).
- Sản phẩm từ thịt gà có vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Sản phẩm từ thịt gà luôn đóng vai trò quan trọng đối với người dân ở nông thôn và thành thị. Thịt gà luôn được coi là món chinh trong mâm tiệp được dùng để tiếp đãi bạn bè, khách quý, thậm chí gà được sử là một phần quan trọng trong sính lễ của hôn nhân. Một số hình thức chăn nuôi gà thịt Có 3 hình thức chăn nuôi gà thịt: hình thức chăn nuôi thả rông, hình thức nuôi nhốt hoàn toàn và sự kết hợp của hai hình thức trên là hình thức nuôi thá chăn thả. Nuôi thả rông: là hình thức truyền thống và tồn tại ở hầu hết các vùng nông thôn.
Đặc trưng của hình thức này là chi phí đầu tư ban đầu thấp. Ngoài ra hình thức này có rất nhiều nhược điểm như năng suất sản phẩm nông nghiệp thấp, do không hệ thống chuồng trại đảm bảo, không có chuồng trại kiện cố, không có sự kiểm soát, không đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi, dịch bệnh thường xuyên xảy ra … Tuy nhiên, hình thức này có thể phù hợp với điều kiện chăn nuôi của các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ nhằm tận dụng thức ăn tự nhiên và cải thiện nhu cầu thực phẩm…Tính theo tỷ lệ chăn nuôi nhỏ lẻ mỗi hộ khoảng từ 10- 30 con chiếm khoảng từ 40-50% tỷ trọng gia cầm của cả nước (Cục chăn nuôi 2020).