Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất Ngô 1. Giới thiệu chung về cây Ngô Ngô có tên khoa học là Zea mays L, do nhà thực vật Thủy Điển Linnacus đặt theo hệ thống tên kép Hylap - Latinh: Zea từ Hy Lạp để chỉ cây ngũ cốc và mays là từ “Mahiz” tên gọi cây ngô của người bản địa da đỏ.
Cũng có thể mays là từ “Maya” tên một bộ tộc da đỏ ở vùng Trung Mỹ - xuất xứ của ngô. Zea thuộc chi Maydeae, thuộc họ hoa thảo (Gramineae). Hiện thế giới đang tồn tại hai loại hệ thống phân loại đối với loại Zea, là Wilkes (1967) và Iltis - Doebly (1989). Ngô có nguồn gốc từ Trung Mỹ song cây ngô có thích nghi nhanh với những điều kiện sinh thái khác nhau trên thế giới [3].
Trên phạm vi thế giới các nhà khoa học đã chia sinh thái ngô thành 4 vùng chính: Ôn đới, cận nhiệt đới, nhiệt đới cao (trên 2000m so với mặt nước biển), nhiệt đới thấp (dưới 2000m). Theo phân loại này Việt Nam nằm trong vùng sinh thái nhiệt đới thấp, các bộ giống từ vùng nhiệt đới thấp biểu hiện sự thích ứng hơn cả thông qua khả năng chống chịu và năng suất, kể cả ở các thảo nguyên cao phía Bắc hoặc vụ Đông ở đồng bằng Bắc Bộ. Ở Việt Nam, nguồn gen được bảo tồn tại viện nghiên cứu ngô với khoảng 400 mẫu giống thụ phấn tự do và 3. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất cây ngô Nếu coi cây ngô là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất ngô a. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên 6 + Điều kiện đất đai Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt đối với cây ngô, nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng sản phẩm ngô. Để giúp cây đứng vững và có khả năng sinh trưởng phát triển mạnh được đều nhờ vào nguồn dinh dưỡng từ đất, do vậy năng suất cây trồng cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào chế độ dinh dưỡng có trong đất. Để ngô có năng suất cao ta nên trồng xen ngô với đỗ tương, vừa thu được sản phẩm chính vừa có được sản phẩm phụ, mặt khác đỗ tương là cây họ đậu trồng xen ngô sẽ cung cấp chất dinh dưỡng cho ngô làm ngô phát triển tốt hơn năng suất cao hơn.
+ Điều kiện khí hậu Cây ngô là cây có khả năng chống chịu thích hợp với nhiều kiểu khí hậu, đặc biệt thích hợp với khí hậu của các tỉnh miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên, các tỉnh Nam Bộ. Chính vì vậy, phải dựa vào điều kiện khí hậu từng vùng mà có thời vụ gieo trồng thích hợp. Lượng nước cần thiết để cho hạt ngô nảy mầm tương đối thấp (khoảng 45% trọng lượng ngô tuyệt đối của hạt) độ ẩm thích hợp của đất đảm bảo nảy mầm khoảng 60 - 70% độ ẩm tương đối. Nhiệt độ thích hợp cho ngô nảy mầm là 25 - 30ºc nhiệt độ quá cao hay thấp quá đều ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của mầm [9].
Nhóm nhân tố kỹ thuật - Chọn giống ngô: Nên chọn giống ngô tốt có sức chống chịu cao, thời gian sinh trưởng phù hợp. Trên cơ sở giống ngô đã khuyến cáo để lựa chọn giống ngô phù hợp với từng vụ, từng vùng địa phương. Né tránh những bất lợi, tận dụng tối đa những thuận lợi về đất đai, nhiệt độ, ánh sáng,… - Thời vụ: Tùy vào điều kiện cụ thể của từng vùng mà chọn thời vụ cho thích hợp. Thời vụ là yếu tố rất quan trọng, đảm bảo cho quá trình sinh trưởng phát triển bình thường của cây ngô và cho năng suất cao.
Để lựa chọn đúng thời vụ gieo trồng phải nắm vững điều kiện sinh thái của địa phương, các điều 7 kiện cơ sở hạ tầng (khả năng phục vụ tưới, tiêu nước,…) và đặc điểm của giống đưa vào gieo trồng. Việt Nam tuy là đất nước không lớn song có địa hình kéo dài và phức tạp, điều kiện sinh thái giữa các vùng tương đối khác biệt, vì vậy thời vụ trồng ngô cũng rất đa dạng. + Đối với ngô Đông Xuân gieo từ 15/11 - 15/12. + Đối với ngô Xuân gieo từ 15/1 - 15/2.
+ Đối với ngô Hè Thu gieo từ tháng 6 đến tháng 7. - Xử lý hạt trước khi gieo: Để phòng trừ sâu bệnh giai đoạn đầu vụ đồng thời tạo điều kiện thích hợp để thúc đẩy quá trình mọc mầm ta cần: Ngâm hạt vào nước vôi khoảng 4 - 8 giờ để diệt nấm bệnh hoặc ngâm vào nước có nhiệt độ 40 - 50ºC. - Độ sâu khi gieo hạt: Để cây nảy mầm và mọc nhanh hơn ở thời kì gieo sớm, cần gieo nông để tận dụng nhiệt độ đất có lợi trên bề mặt. Độ sâu lấp đất khi gieo hạt trung bình 5 - 6cm.
Tuy nhiên, ở những vùng khô hạn nên gieo ở độ sâu sâu hơn. - Đất trồng ngô: Đất trồng ngô thích hợp nhất là đất thịt nhẹ, màu mỡ cao, dễ thoát nước, đủ ẩm, nhưng không bị úng, do đó khi trồng phải làm đất tơi xốp, sâu, thoáng, giữ ẩm tốt, bừa sạch cỏ dại. - Mật độ khoảng cách: Mỗi vùng, mỗi giống cần áp dụng khoảng cách hợp lý, để tận dụng tối đa dinh dưỡng đất và thời gian chiếu sáng, cũng như cường độ ánh sáng nhằm đạt năng suất cao nhất. Đối với đất tốt hoặc cường độ ánh sáng yếu thì cần giống ngô có mật độ thưa.
Tùy thuộc vào thời gian sinh trưởng của giống và đặc tính của giống ngô. + Đối với cây ngắn ngày mật độ 6 - 8 vạn cây/ha, khoảng cách 60cm x 25cm x 1 cây. + Đối với cây trung bình mật độ 5 - 7 vạn cây/ha, khoảng cách 80cm x 40 - 50cm x 2 cây 8 - Bón phân cho ngô: Muốn cho ngô đạt năng suất cao phải bón đủ lượng phân bón và khi bón phân phải dựa vào mùa vụ, khả năng phát triển của rễ, thân, nhu cầu sinh lý về phân bón, đồng thời dựa vào hàm lượng dinh dưỡng trong đất. Lượng phân bón: Phân chuồng 10 - 15 tấn/ha.
Đạm Urê: 300 - 400 kg/ha. Supe lân 300 - 450 kg/ha. Kali 120 - 150 kg/ha. Đối với đất bãi ven sông được bồi hàng năm, đất phát triển trên đá bazan thì không cần bón phân chuồng.
Cách bón: + Đối với điều kiện ít phân với giống ngô dài ngày. Bón lót: Bón toàn bộ phân chuồng + toàn bộ Lân + 1/3 Đạm (bón vào rãnh hoặc vào hốc lấp 1 lớp đất mỏng rồi mới gieo hạt). Bón thúc: Bón làm 2 đợt Đợt 1: Khi ngô 3 - 4 lá bón 1/3 Đạm + 1/2 Kali. Đợt 2: Khi ngô 7 - 9 lá bón 1/3 Đạm + 1/2 Kali.
+ Đối với điều kiện nhiều phân và giống ngô dài ngày. Bón lót: Bón toàn bộ phân Chuồng + toàn bộ Lân + 1/3 Đạm + 1/3 Kali (bón vào rãnh hoặc vào hốc lấp 1 lớp đất mỏng rồi mới gieo hạt). Bón thúc: Bón làm 3 đợt Đợt 1: Khi ngô 3 - 4 lá bón 1/3 Đạm. Đợt 2: Khi ngô 7 - 9 lá bón 1/3 Đạm + 1/3 Kali.
Đợt 3: Bón trước trổ cờ 1/3 Kali. - Chăm sóc + Dặm hạt khi điều kiện thời tiết thuận lợi. + Dặm bầu khi tranh thủ thời vụ lúc ngô 3 - 4 lá. + Tỉa đỉnh cây lúc cây ngô 5 lá và ổn định mật độ khi ngô 6 - 7 lá.
+ Xới xáo để đất tơi xốp và giữ ẩm, xới phá ván sau mưa vào kỳ cây con. + Vun gốc vừa kết hợp làm cỏ sau khi bón thúc đợt 1. + Vun cao gốc kết hợp làm cỏ lần cuối cho ngô khi bón thúc lần 2. 9 + Tưới nước: Đưa vào nhu cầu sinh trưởng của cây tưới nước 3 lần Lần 1: Khi cây 7 - 9 lá tưới ngập 1/3 luống sau khi bón thúc.
Lần 2: Trước trổ cờ 10 - 15 ngày tưới ngập 2/3 luống thấm đều rồi rút cạn. Lần 3: Sau thụ tinh xong tưới ngập 1/3 luống rồi rút cạn. Đồng thời khi tưới nước cần dựa vào thời tiết, ẩm độ đất, đặc điểm giống. + Sau khi cây trổ cờ phun râu ta có thể tiến hành bấm bỏ 10 - 15% cờ trên cây xấu hoặc bẻ cờ sau khi thụ tinh xong để tập trung dinh dưỡng về bắp hoặc thụ phấn bổ khuyết.
- Thu hoạch ngô: Thu hoạch có ý nghĩa quan trọng đến năng suất, chất lượng ngô. Thu hoạch sớm trước khi ngô chín sinh lí do ngô chưa đủ thời gian tích luỹ vật chất vào hạt nên khối lượng hạt thấp. Thu hoạch quá muộn, hạt có thể bị mọt hoặc mốc làm giảm chất lượng hạt. Độ chín của hạt và thời điểm thu hoạch có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng ngô.
Thời điểm thu hoạch tốt nhất là khi ngô chín già, toàn bộ ruộng ngô đã có 80 - 85% số bắp có lá bị chín vàng (râu ngô khô, đen, bẹ ngô chuyển từ màu xanh sang màu vàng rơm, nếu là ngô lai chân hạt đã có điểm đen). Không nên để ngô chín treo đèn ở ngoài nương rồi mới thu hoạch, vì khi ngô chín treo đèn, nếu gặp mưa hoặc ẩm độ không khí cao, ngô dễ bị thối, mốc, nảy mầm tại ruộng, làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ngô bảo quản. Chọn ngày khô ráo, nắng để thu hoạch ngô nhằm hạn chế ngô bị ướt do mưa. Nếu ngô chín vào đợt mưa dài ngày (nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc, vụ thu hoạch ngô thường trùng vào các dịp này), việc nên làm là cần vặt râu, bẻ gập bắp ngô chúi xuống để nước mưa không thâm vào trong làm thối hỏng hạt ngô.
Đến khi nắng ráo sẽ thu về phơi. Thu xong vận chuyển về nhà ngay và tránh đổ đống (vì sẽ làm đống bắp nhanh chóng bốc nóng, toả nhiệt gây thối mốc) [8]. Nhóm nhân tố về kinh tế + Thị trường 10 - Thị trường là yếu tố quan trọng và có tính quyết định đến sự tồn tại của cơ sở sản xuất ngô, của các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế thị trường, mỗi nhà sản xuất, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh và mỗi cá nhân đều phải trả lời 3 câu hỏi của kinh tế học đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Và Sản xuất cho ai? Câu hỏi sản xuất cái gì? Được đặt lên hàng đầu, mang tính định hướng.