Đặt vấn đề Cây ăn quả có múi (cam, quýt, chanh, bưởi…) là nhóm cây ăn quả quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Năm 2011, diện tích cây ăn quả có múi ở Việt Nam đạt 124.057 ha, trong đó diện tích trồng cam quýt tới 70.000 ha và chanh là 18.000 ha (FAOSAT, 2011), và đang tăng dần qua từng năm. Các loại quả có múi không chỉ là hàng hóa đáp ứng cho tiêu thụ nội địa mà còn là loại mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Nghề trồng cây ăn quả có múi được phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới.
Tuy nhiên với sự đa dạng khí hậu ở các vùng trồng trọt là điều kiện thích hợp cho nhiều loại sâu bệnh phát sinh gây hại trên cây có múi, đặc biệt là bệnh vàng lá gân xanh (Greening). Bệnh lan truyền với tốc độ chóng mặt và gây hại cho nhiều vườn cam trên toàn thế giới. Bệnh vàng lá gân xanh (tên tiếng Anh là Greening) là bệnh nguy hiểm nhất trên cây có múi trên thế giới, đặc biệt trên cây cam. Tương tự tại Việt Nam, khắp cả nước, bệnh là một trong các nguyên nhân chính cản trở việc phát triển sản xuất cây có múi.
Tại miền Bắc, các vùng trồng cây có múi chính đều bị nhiễm bệnh vàng lá gân xanh với tỷ lệ bệnh thường 50 %, nhiều vườn có thể nhiễm tới 100 % (Lê Mai Nhất, 2014). Theo thống kê của Cục Trồng trọt và BVTV, trong những năm gần đây, diện tích cây có múi bị nhiễm bệnh vàng lá gân xanh tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long đều xấp xỉ 5000 ha. Cây bị bệnh vàng lá gân xanh sinh trưởng rất còi cọc; bộ lá, đặc biệt là lá non, bị biến vàng; quả nhỏ, lệch, bị biến vàng phần cuống trước khi chín, không có giá trị sử dụng. Tác nhân gây bệnh là một loài vi khuẩn biệt dưỡng (Candidatus Liberibacter asiaticus, viết tắt Ca.Las) nên không thể nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo.
Vi khuẩn lan truyền ngoài tự nhiên qua các vật liệu ghép và rầy chổng cánh (Diaphorina citri). 1 Nghệ An là tỉnh có các giống cam chất lượng được người tiêu dụng ưa chuộng như : Xã Đoài , Vân Du , Valencia và được Cục sở hữu trí tuệ (Bộ khoa học và công nghệ ) bảo hộ chỉ dẫn địa lý với thương hiệu “ Cam Vinh “ vào năm 2007. Hiện nay , trên địa bàn toàn tỉnh có hơn 5995 ha cam , với năng suất bình quân Đạt 155,19 tạ /ha , sản lượng đạt 32310 tấn. Vùng có diện tích cam lớn nhất ở Nghệ An là huyện Quỳ Hợp.
Tại vùng này có 2.787 ha cam chiếm 54,68 % tổng diện tích trồng cam cả tỉnh. Giai đoạn 2010-2015, nghề trồng cam có vị thế độc tôn , giúp bà con nông dân vươn lên làm giàu. Sự phát triển nóng ồ ạt , làm tăng nhanh diện tích cam , đạt đỉnh diện tích trồng cam toàn tỉnh năm 2018 là 6.150 ha , diện tích cam vượt quy hoạch ở Quỳ Hợp là 158 ha , dẫn đến nhiều hệ luỵ như năng suất thấp , chất lượng sản phẩm không đủ sức cạnh tranh , sâu bệnh nhiều, giống cam không đảm bảo , trình độ canh tác chưa cao ,… Trong đó bệnh Vàng lá gân xanh là một trong những dịch bệnh nguy hiểm nhất , được ví như ‘ Ung thu không có thuốc chữa ” trên cây cam ở Quỳ Hợp .Tàn phá nặng nề các vườn cam , giảm năng suất và chất lượng. Bệnh hiện tai chưa có thuốc phòng trị đặc hiệu , nên nếu cây đã bị bệnh , phương pháp phòng trừ chỉ có chặt bỏ.
Để phòng chống bệnh vàng lá gân xanh, nhiều biện pháp đã được đề xuất gồm tiêu diệt vector là rầy chồng cánh, sử dụng vi lượng dưới dạng phân bón lá và sử dụng hóa chất ức chế vi khuẩn. Hai biện pháp đầu đã chứng tỏ không hiệu quả. Hóa chất đầu tiên được sử dụng là kháng sinh tetracycline được áp dụng bằng cách tiêm vào thân cây bệnh trong những năm 1970 tại châu Phi và châu Á. Mặc dù có hiệu quả nhưng tetracycline là kháng sinh ức chế vi khuẩn (bacteriostatic) chứ không phải là kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn (bactericidal) nên việc sử dụng đòi hỏi phải lặp lại hàng năm.
Sử dụng tetracycline bằng cách tiêm vào thân cũng có nhược điểm là kháng sinh được đưa vào cây chủ yếu ở mạch xylem trong khi vi khuẩn Ca. las phân bố ở mạch floem. Ngoài ra, sử dụng 2 kháng sinh cũng gây quan ngại liên quan đến ảnh hưởng bất lợi của dư lượng kháng sinh. Chính vì vậy biện pháp hóa học, chủ yếu là kháng sinh tetracyclin, để phòng trừ bệnh vàng lá gân xanh đã bị từ bỏ.
Cho tới khoảng hai mươi năm trở lại đây, do sự lây lan và bùng phát của bệnh, đặc biệt tại Mỹ, nên biện pháp hóa học phòng trừ bệnh vàng lá gân xanh lại được chú ý lại. Nhiều hóa chất, thuộc các nhóm khác nhau gồm các kháng sinh, các nano kim loại, các chất hoạt động bề mặt, các muối kim loại, các hợp chất chuyển hóa thứ cấp của vi khuẩn Bacillus và một số hóa chất khác đã được đánh giá khả năng ức chế và tiêu diệt vi khuẩn Ca.Las trên cây. Nhiều hóa chất và kháng sinh đã chứng tỏ có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn Ca.las, trong đó Ampicillin là một kháng sinh thuộc nhóm có hoạt tính cao đối với vi khuẩn này và không gây độc cho cây. Một vấn đề quan trọng khi áp dụng kháng sinh phòng chống Ca.las là phương pháp sử dụng thuốc phù hợp nhằm đưa được thuốc vào cây, đặc biệt là mạch floem, một cách hiệu quả.
Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy một số hợp chất hoạt động bề mặt như silan hữu cơ có khả năng tốt nhằm vận chuyển kháng sinh qua mô vỏ. Đề tài : ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨC CHẾ BỆNH VÀNG LÁ GÂN XANH (Candidatus Liberibacter asiaticus) BẰNG KHÁNG SINH TRÊN MỘT SỐ GIỐNG CAM TẠI QUỲ HỢP - NGHỆ AN được thực hiện nhằm đánh giá khả năng ức chế bệnh Vàng lá gân xanh (Candidatus Liberibacter asiaticus) bằng kháng sinh ampicillin sử dụng một chất hoạt động bề mặt là trisiloxane ethoxylate làm chất hỗ trợ. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Đánh giá được khả năng ức chế bệnh vàng lá gân xanh do vi khuẩn biệt dưỡng Candidatus Liberibacter asiaticus (Ca.Las) trên một số giống cam ở Quỳ Hợp – Nghệ An bằng kháng sinh ampicillin bằng phương pháp phun.
Điều tra hiện trạng bệnh VLGX tại một số giống cam tại Quỳ Hợp – Nghệ An 2. Thu thập mẫu và chẩn đoán Ca.Las bằng PCR nhằm đánh giá hiện trạng nhiễm bệnh của các giống và làm cơ sở để thiết kế thí nghiệm đồng ruộng. Thực hiện thí nghiệm đồng ruộng nhằm đánh giá khả năng ức chế Ca.Las bằng kháng sinh ampicilin và chất hoạt động bề mặt trisiloxane ethoxylate. 4 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Lịch sử và phân bố cây có múi Cây có múi là một chi của các loài thực vật có hoa và cây bụi trong gia đình họ Rutaceae.
Thực vật trong chi tạo ra các loại quả có múi , bao gồm các loại cây trồng quan trọng như cam, chanh, bưởi, bưởi và chanh. Nguồn gốc ở Đông Nam Á, tập trung ở Assam, Ấn Độ. Tuyên truyền sang Trung Quốc tương đối nhanh. Cam chua và cam ngọt có lịch sử hơn 2000 năm.
Các giống được tạo ra bằng cách nhân giống xuống sông Dương Tử (Long Giang) trên đất liền. Ở Tây Âu, cam chua được truyền qua tuyến thương mại Ả Rập vào khoảng thế kỷ 12, và cam ngọt cũng được nhân giống bằng tuyến đường bộ thương mại Ý vào đầu thế kỷ 15. Ngoài việc khám phá tuyến đường quanh Mũi Hảo Vọng (1498), người Bồ Đào nha đã giới thiệu các giống tuyệt vời từ Trung Quốc. Cam quýt được giới thiệu vào năm 1805 từ Trung Quốc đến Anh.
Đó là sau khi phát hiện ra lục địa mới ở Columbus, nó đã được truyền sang châu Mỹ. Cam quýt được trồng ở nhiều nước trên thế giới , tập trung ở hai dải lớn của bán cầu Bắc và Nam , từ vĩ độ 20-40 , chia thành nhiều vùng lớn như : Vùng Địa Trung Hải , Vùng Châu Mỹ , Vùng Châu Á. Ngoài ra còn có một số vùng của châu Đại Dương , Úc và Newzenland.(Yamuo Yamada) Ở Việt Nam , các vùng trồng cây có múi quan trọng là Nghệ An , Hà Tĩnh, Hà Giang, Hà Nội , Phú Thọ , Lạng Sơn ,Yên Bái , Vĩnh Long , Bến Tre , Tiền Giang , Cần Thơ , Đồng Tháp , Trà Vinh , Đồng Nai , Bình Dương .2 Giá trị sử dụng Cam quýt là loại quả cao cấp , có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường ( chủ yếu là đường saccaroza) hàm lượng vitamin C từ 40-90 mg/100g tươi , các axit hữu cơ từ 0,4-1,2 % , trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm.
5 Quả cam quýt dùng để ăn tươi , làm mứt , nước giải khát và chữa bệnh. Tinh dầu cất từ vỏ quả , lá , hoa được dùng nhiều trong công nghiệp thực phẩm và chế mỹ phẩm. Đặc biệt là chanh yên 1 tấn quả có thể cấp được 67 lít tinh dầu ( 1kg tinh dầu ). Từ xa xưa các loại quả thuộc chi Citrus đã có mặt trong y học của nhiều nước trên thế giới.
Trong sách “ Vân dài loại ngũ “ , Lê Quý Đôn viết “ quýt là loại thượng phẩm , quýt đỏ , quýt vá , quýt cát là hạ phẩm vỏ quýt có tính khoan trung , hạ khí ,… Ở thế kỉ thứ XVI các thầy thuốc Trung Quốc , Ấn Độ tìm thấy tác dụng phòng chữa dịch hạch , trị bệnh phổi và bệnh chảy máu dưới da của các loại quả thuộc chi Citrus. Ở Mỹ ( 1938) dùng quả cam quýt kết hợp với Insulin trị bệnh đái tháo đường. Ở Nga việc sử dụng các loại quả có múi trong y học dân gian được bắt đầu từ thế kỷ XI. Trồng cam , quýt , chanh , bưởi chóng cho thu quả và lãi suất cao hơn nhiều loại cây ăn quả khác.
Ở nước ta , 1 ha cam quýt ở thời kỳ 8 năm tuổi trung bình thu 16 tấn / ha. Cây cam quýt có thể sống và cho thu hoạch quả trong vòng 25-30 năm. Đất tốt , điều kiện thâm canh cao có thể , khí hậu thích hậu , tuổi thọ của cam quýt có thể kéo dài 50 -100 năm .