Khóa luận tốt nghiệp đánh giá khả năng ức chế bệnh vàng lá gân xanh candidatus liberibacter asiaticus bằng kháng sinh trên một số giống cam tại quỳ hợp nghệ an

Khóa luận đánh giá hiệu quả kháng sinh ức chế bệnh vàng lá gân xanh trên giống cam tại Quỳ Hợp, Nghệ An, góp phần nâng cao chất lượng cây trồng.

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

I. PHẦN MỞ ĐẦU

I.1. Đặt vấn đề

I.2. Mục đích và yêu cầu

II. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

II.1. Lịch sử và phân bố cây có múi

II.2. Giá trị sử dụng

II.3. Đặc điểm thực vật học

II.4. Các giống cây có múi ở Việt Nam

II.5. Tình hình sản xuất cây có múi ở Việt Nam và ở vùng Phủ Quỳ

II.6. Bệnh vàng lá gân xanh trên cây có múi

II.6.1. Lịch sử và phân bố bệnh

II.6.2. Vi khuẩn Candidatus Liberibacter

II.6.3. Chẩn đoán bệnh vàng lá gân xanh

II.7. Phòng trừ bệnh HLB

II.7.1. Kiểm dịch thực vật

II.7.2. Loại bỏ cây bệnh

II.7.3. Sử dụng cây trồng sạch bệnh

II.7.4. Phòng chống vector

II.7.4.1. Biện pháp canh tác
II.7.4.2. Biện pháp sinh học
II.7.4.3. Biện pháp hoá học

II.7.5. Sử dụng kháng sinh và kích kháng

III. PHẦN III: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

III.1. Địa điểm và thời gian

III.2. Vật liệu nghiên cứu

III.3. Các thiết bị máy chủ yếu

III.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

III.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

III.5.1. Phương pháp xử lý thuốc

III.5.2. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA TỶ LỆ BỆNH VÀNG LÁ GÂN XANH

III.5.3. PHƯƠNG PHÁP PCR (POLYMERASE CHAIN REACTION)

III.5.4. Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng

III.5.5. Phương pháp xử lý số liệu

IV. PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

IV.1. NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA XỬ LÝ THUỐC ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ CỦA CAM TẠI PHỦ QUỲ - NGHỆ AN NĂM 2021

IV.1.1. Ảnh hưởng của xử lý thuốc đến một số chỉ tiêu sinh trưởng đợt lộc 1 trên giống Xã Đoài

IV.1.2. Ảnh hưởng của xử lý thuốc đến một số chỉ tiêu sinh trưởng đợt lộc 2 trên giống Xã Đoài

IV.1.3. Ảnh hưởng của xử lý thuốc đến một số chỉ tiêu sinh trưởng đợt lộc 1 trên giống BH32

IV.1.4. Ảnh hưởng của xử lý thuốc đến một số chỉ tiêu sinh trưởng đợt lộc 2 trên giống BH32

IV.1.5. Ảnh hưởng của xử lý thuốc đến một số chỉ tiêu sinh trưởng đợt lộc 3 trên giống BH32

IV.1.6. Ảnh hưởng của xử lý thuốc đến một số chỉ tiêu chất lượng quả trên giống Xã Đoài

IV.2. Ảnh hưởng của xử lý thuốc đến bệnh VLGX trên hai giống Xã Đoài và BH 32

IV.2.1. Xác định, kiểm tra, đánh giá 2 vườn thí nghiệm ở Quỳ Hợp – Nghệ An

IV.2.2. Kết quả đánh giá thí nghiệm phòng chống bệnh VLGX tại hai vườn cam tại Văn Lợi – Quỳ Hợp

V. PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bệnh vàng lá gân xanh

Bệnh vàng lá gân xanh (VLGX) do vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus (Ca.Las) gây ra, là một trong những bệnh nguy hiểm nhất đối với cây có múi, đặc biệt là cây cam. Bệnh này không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng quả. Tại Quỳ Hợp, Nghệ An, bệnh VLGX đã lan rộng, gây thiệt hại lớn cho nông dân. Theo thống kê, tỷ lệ nhiễm bệnh có thể lên đến 100% trong một số vườn cam. Việc phát hiện và phòng trừ bệnh này là rất cần thiết để bảo vệ cây trồng và đảm bảo thu nhập cho người nông dân.

1.1. Tác nhân gây bệnh

Vi khuẩn Candidatus Liberibacter asiaticus là tác nhân chính gây ra bệnh VLGX. Vi khuẩn này không thể nuôi cấy trên môi trường nhân tạo, mà lây lan chủ yếu qua rầy chổng cánh. Sự lây lan nhanh chóng của bệnh đã khiến cho việc kiểm soát trở nên khó khăn. Các triệu chứng của bệnh bao gồm lá vàng, quả nhỏ và không có giá trị thương phẩm. Việc phát hiện sớm và áp dụng biện pháp phòng trừ kịp thời là rất quan trọng.

II. Hiệu quả của kháng sinh trong việc phòng trừ bệnh

Kháng sinh được sử dụng như một biện pháp để ức chế sự phát triển của vi khuẩn Ca.Las. Trong nghiên cứu này, kháng sinh ampicillin được áp dụng để đánh giá khả năng ức chế bệnh VLGX trên một số giống cam tại Quỳ Hợp. Kết quả cho thấy, việc phun ampicillin không chỉ làm giảm triệu chứng bệnh mà còn không gây độc cho cây. Điều này mở ra hướng đi mới trong việc phòng trừ bệnh VLGX mà không làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây.

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện bằng cách phun ampicillin với nồng độ 100 ppm trên các giống cam khác nhau. Các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều dài cành, số lá/cành, và chất lượng quả được theo dõi và đánh giá. Kết quả cho thấy, ampicillin có khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn mà không làm giảm các chỉ tiêu sinh trưởng của cây. Điều này chứng tỏ rằng kháng sinh có thể là một giải pháp hiệu quả trong việc phòng trừ bệnh VLGX.

III. Ứng dụng thực tiễn và giá trị của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về khả năng ức chế bệnh VLGX bằng kháng sinh mà còn mở ra hướng đi mới cho việc quản lý bệnh trên cây cam tại Nghệ An. Việc áp dụng kháng sinh ampicillin có thể giúp nông dân giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển các biện pháp phòng trừ bệnh hiệu quả và bền vững trong nông nghiệp.

3.1. Khuyến nghị cho nông dân

Nông dân nên áp dụng biện pháp phun kháng sinh ampicillin kết hợp với các biện pháp canh tác hợp lý để phòng trừ bệnh VLGX. Việc theo dõi tình trạng sức khỏe của cây và phát hiện sớm triệu chứng bệnh sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng trừ. Ngoài ra, cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng trong việc cung cấp thông tin và hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp đánh giá khả năng ức chế bệnh vàng lá gân xanh candidatus liberibacter asiaticus bằng kháng sinh trên một số giống cam tại quỳ hợp nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cây ăn quả có múi (cam, quýt, chanh, bưởi…) là nhóm cây ăn quả quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Năm 2011, diện tích cây ăn quả có múi ở Việt Nam đạt 124.057 ha, trong đó diện tích trồng cam quýt tới 70.000 ha và chanh là 18.000 ha (FAOSAT, 2011), và đang tăng dần qua từng năm. Các loại quả có múi không chỉ là hàng hóa đáp ứng cho tiêu thụ nội địa mà còn là loại mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Nghề trồng cây ăn quả có múi được phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới.

Tuy nhiên với sự đa dạng khí hậu ở các vùng trồng trọt là điều kiện thích hợp cho nhiều loại sâu bệnh phát sinh gây hại trên cây có múi, đặc biệt là bệnh vàng lá gân xanh (Greening). Bệnh lan truyền với tốc độ chóng mặt và gây hại cho nhiều vườn cam trên toàn thế giới. Bệnh vàng lá gân xanh (tên tiếng Anh là Greening) là bệnh nguy hiểm nhất trên cây có múi trên thế giới, đặc biệt trên cây cam. Tương tự tại Việt Nam, khắp cả nước, bệnh là một trong các nguyên nhân chính cản trở việc phát triển sản xuất cây có múi.

Tại miền Bắc, các vùng trồng cây có múi chính đều bị nhiễm bệnh vàng lá gân xanh với tỷ lệ bệnh thường 50 %, nhiều vườn có thể nhiễm tới 100 % (Lê Mai Nhất, 2014). Theo thống kê của Cục Trồng trọt và BVTV, trong những năm gần đây, diện tích cây có múi bị nhiễm bệnh vàng lá gân xanh tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long đều xấp xỉ 5000 ha. Cây bị bệnh vàng lá gân xanh sinh trưởng rất còi cọc; bộ lá, đặc biệt là lá non, bị biến vàng; quả nhỏ, lệch, bị biến vàng phần cuống trước khi chín, không có giá trị sử dụng. Tác nhân gây bệnh là một loài vi khuẩn biệt dưỡng (Candidatus Liberibacter asiaticus, viết tắt Ca.Las) nên không thể nuôi cấy được trên môi trường nhân tạo.

Vi khuẩn lan truyền ngoài tự nhiên qua các vật liệu ghép và rầy chổng cánh (Diaphorina citri). 1 Nghệ An là tỉnh có các giống cam chất lượng được người tiêu dụng ưa chuộng như : Xã Đoài , Vân Du , Valencia và được Cục sở hữu trí tuệ (Bộ khoa học và công nghệ ) bảo hộ chỉ dẫn địa lý với thương hiệu “ Cam Vinh “ vào năm 2007. Hiện nay , trên địa bàn toàn tỉnh có hơn 5995 ha cam , với năng suất bình quân Đạt 155,19 tạ /ha , sản lượng đạt 32310 tấn. Vùng có diện tích cam lớn nhất ở Nghệ An là huyện Quỳ Hợp.

Tại vùng này có 2.787 ha cam chiếm 54,68 % tổng diện tích trồng cam cả tỉnh. Giai đoạn 2010-2015, nghề trồng cam có vị thế độc tôn , giúp bà con nông dân vươn lên làm giàu. Sự phát triển nóng ồ ạt , làm tăng nhanh diện tích cam , đạt đỉnh diện tích trồng cam toàn tỉnh năm 2018 là 6.150 ha , diện tích cam vượt quy hoạch ở Quỳ Hợp là 158 ha , dẫn đến nhiều hệ luỵ như năng suất thấp , chất lượng sản phẩm không đủ sức cạnh tranh , sâu bệnh nhiều, giống cam không đảm bảo , trình độ canh tác chưa cao ,… Trong đó bệnh Vàng lá gân xanh là một trong những dịch bệnh nguy hiểm nhất , được ví như ‘ Ung thu không có thuốc chữa ” trên cây cam ở Quỳ Hợp .Tàn phá nặng nề các vườn cam , giảm năng suất và chất lượng. Bệnh hiện tai chưa có thuốc phòng trị đặc hiệu , nên nếu cây đã bị bệnh , phương pháp phòng trừ chỉ có chặt bỏ.

Để phòng chống bệnh vàng lá gân xanh, nhiều biện pháp đã được đề xuất gồm tiêu diệt vector là rầy chồng cánh, sử dụng vi lượng dưới dạng phân bón lá và sử dụng hóa chất ức chế vi khuẩn. Hai biện pháp đầu đã chứng tỏ không hiệu quả. Hóa chất đầu tiên được sử dụng là kháng sinh tetracycline được áp dụng bằng cách tiêm vào thân cây bệnh trong những năm 1970 tại châu Phi và châu Á. Mặc dù có hiệu quả nhưng tetracycline là kháng sinh ức chế vi khuẩn (bacteriostatic) chứ không phải là kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn (bactericidal) nên việc sử dụng đòi hỏi phải lặp lại hàng năm.

Sử dụng tetracycline bằng cách tiêm vào thân cũng có nhược điểm là kháng sinh được đưa vào cây chủ yếu ở mạch xylem trong khi vi khuẩn Ca. las phân bố ở mạch floem. Ngoài ra, sử dụng 2 kháng sinh cũng gây quan ngại liên quan đến ảnh hưởng bất lợi của dư lượng kháng sinh. Chính vì vậy biện pháp hóa học, chủ yếu là kháng sinh tetracyclin, để phòng trừ bệnh vàng lá gân xanh đã bị từ bỏ.

Cho tới khoảng hai mươi năm trở lại đây, do sự lây lan và bùng phát của bệnh, đặc biệt tại Mỹ, nên biện pháp hóa học phòng trừ bệnh vàng lá gân xanh lại được chú ý lại. Nhiều hóa chất, thuộc các nhóm khác nhau gồm các kháng sinh, các nano kim loại, các chất hoạt động bề mặt, các muối kim loại, các hợp chất chuyển hóa thứ cấp của vi khuẩn Bacillus và một số hóa chất khác đã được đánh giá khả năng ức chế và tiêu diệt vi khuẩn Ca.Las trên cây. Nhiều hóa chất và kháng sinh đã chứng tỏ có khả năng ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn Ca.las, trong đó Ampicillin là một kháng sinh thuộc nhóm có hoạt tính cao đối với vi khuẩn này và không gây độc cho cây. Một vấn đề quan trọng khi áp dụng kháng sinh phòng chống Ca.las là phương pháp sử dụng thuốc phù hợp nhằm đưa được thuốc vào cây, đặc biệt là mạch floem, một cách hiệu quả.

Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy một số hợp chất hoạt động bề mặt như silan hữu cơ có khả năng tốt nhằm vận chuyển kháng sinh qua mô vỏ. Đề tài : ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ỨC CHẾ BỆNH VÀNG LÁ GÂN XANH (Candidatus Liberibacter asiaticus) BẰNG KHÁNG SINH TRÊN MỘT SỐ GIỐNG CAM TẠI QUỲ HỢP - NGHỆ AN được thực hiện nhằm đánh giá khả năng ức chế bệnh Vàng lá gân xanh (Candidatus Liberibacter asiaticus) bằng kháng sinh ampicillin sử dụng một chất hoạt động bề mặt là trisiloxane ethoxylate làm chất hỗ trợ. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Đánh giá được khả năng ức chế bệnh vàng lá gân xanh do vi khuẩn biệt dưỡng Candidatus Liberibacter asiaticus (Ca.Las) trên một số giống cam ở Quỳ Hợp – Nghệ An bằng kháng sinh ampicillin bằng phương pháp phun.

Điều tra hiện trạng bệnh VLGX tại một số giống cam tại Quỳ Hợp – Nghệ An 2. Thu thập mẫu và chẩn đoán Ca.Las bằng PCR nhằm đánh giá hiện trạng nhiễm bệnh của các giống và làm cơ sở để thiết kế thí nghiệm đồng ruộng. Thực hiện thí nghiệm đồng ruộng nhằm đánh giá khả năng ức chế Ca.Las bằng kháng sinh ampicilin và chất hoạt động bề mặt trisiloxane ethoxylate. 4 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Lịch sử và phân bố cây có múi Cây có múi là một chi của các loài thực vật có hoa và cây bụi trong gia đình họ Rutaceae.

Thực vật trong chi tạo ra các loại quả có múi , bao gồm các loại cây trồng quan trọng như cam, chanh, bưởi, bưởi và chanh. Nguồn gốc ở Đông Nam Á, tập trung ở Assam, Ấn Độ. Tuyên truyền sang Trung Quốc tương đối nhanh. Cam chua và cam ngọt có lịch sử hơn 2000 năm.

Các giống được tạo ra bằng cách nhân giống xuống sông Dương Tử (Long Giang) trên đất liền. Ở Tây Âu, cam chua được truyền qua tuyến thương mại Ả Rập vào khoảng thế kỷ 12, và cam ngọt cũng được nhân giống bằng tuyến đường bộ thương mại Ý vào đầu thế kỷ 15. Ngoài việc khám phá tuyến đường quanh Mũi Hảo Vọng (1498), người Bồ Đào nha đã giới thiệu các giống tuyệt vời từ Trung Quốc. Cam quýt được giới thiệu vào năm 1805 từ Trung Quốc đến Anh.

Đó là sau khi phát hiện ra lục địa mới ở Columbus, nó đã được truyền sang châu Mỹ. Cam quýt được trồng ở nhiều nước trên thế giới , tập trung ở hai dải lớn của bán cầu Bắc và Nam , từ vĩ độ 20-40 , chia thành nhiều vùng lớn như : Vùng Địa Trung Hải , Vùng Châu Mỹ , Vùng Châu Á. Ngoài ra còn có một số vùng của châu Đại Dương , Úc và Newzenland.(Yamuo Yamada) Ở Việt Nam , các vùng trồng cây có múi quan trọng là Nghệ An , Hà Tĩnh, Hà Giang, Hà Nội , Phú Thọ , Lạng Sơn ,Yên Bái , Vĩnh Long , Bến Tre , Tiền Giang , Cần Thơ , Đồng Tháp , Trà Vinh , Đồng Nai , Bình Dương .2 Giá trị sử dụng Cam quýt là loại quả cao cấp , có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường ( chủ yếu là đường saccaroza) hàm lượng vitamin C từ 40-90 mg/100g tươi , các axit hữu cơ từ 0,4-1,2 % , trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm.

5 Quả cam quýt dùng để ăn tươi , làm mứt , nước giải khát và chữa bệnh. Tinh dầu cất từ vỏ quả , lá , hoa được dùng nhiều trong công nghiệp thực phẩm và chế mỹ phẩm. Đặc biệt là chanh yên 1 tấn quả có thể cấp được 67 lít tinh dầu ( 1kg tinh dầu ). Từ xa xưa các loại quả thuộc chi Citrus đã có mặt trong y học của nhiều nước trên thế giới.

Trong sách “ Vân dài loại ngũ “ , Lê Quý Đôn viết “ quýt là loại thượng phẩm , quýt đỏ , quýt vá , quýt cát là hạ phẩm vỏ quýt có tính khoan trung , hạ khí ,… Ở thế kỉ thứ XVI các thầy thuốc Trung Quốc , Ấn Độ tìm thấy tác dụng phòng chữa dịch hạch , trị bệnh phổi và bệnh chảy máu dưới da của các loại quả thuộc chi Citrus. Ở Mỹ ( 1938) dùng quả cam quýt kết hợp với Insulin trị bệnh đái tháo đường. Ở Nga việc sử dụng các loại quả có múi trong y học dân gian được bắt đầu từ thế kỷ XI. Trồng cam , quýt , chanh , bưởi chóng cho thu quả và lãi suất cao hơn nhiều loại cây ăn quả khác.

Ở nước ta , 1 ha cam quýt ở thời kỳ 8 năm tuổi trung bình thu 16 tấn / ha. Cây cam quýt có thể sống và cho thu hoạch quả trong vòng 25-30 năm. Đất tốt , điều kiện thâm canh cao có thể , khí hậu thích hậu , tuổi thọ của cam quýt có thể kéo dài 50 -100 năm .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá hiệu quả kháng sinh ức chế bệnh vàng lá gân xanh trên cam tại Quỳ Hợp, Nghệ An" tập trung vào việc nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của các loại kháng sinh trong việc kiểm soát bệnh vàng lá gân xanh, một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến cây cam tại khu vực Quỳ Hợp, Nghệ An. Tài liệu cung cấp những thông tin chi tiết về phương pháp thử nghiệm, kết quả thu được, và các khuyến nghị cụ thể để cải thiện hiệu quả phòng trừ bệnh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho nông dân, nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến việc bảo vệ cây trồng khỏi các bệnh hại nguy hiểm.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu piper nigrum l theo hướng bền vững tại đăk lăk. Nếu quan tâm đến các giải pháp bảo vệ thực vật, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành khoa học môi trường đánh giá mức độ tồn lưu thuốc bảo vệ thực vật tại kho thuốc hòn trơ xã diễn yên huyện diễn châu tỉnh nghệ an và đề xuất giải pháp xử lý là một tài liệu đáng đọc. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về các biện pháp kỹ thuật trong canh tác cây trồng, bạn có thể xem Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật bón phân cho cà phê vối coffea canephora pierre giai đoạn kinh doanh trên đất bazan tại đắk lắk. Mỗi tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp và kỹ thuật trong nông nghiệp hiện đại.