LỜI MỞ ĐẦU. Tính cấp thiết của đề tài. Mục tiêu nghiên cún, phương pháp và phạm vi nghiên cứu. Các nghiên cứu liên quan đến Hiệu quả hoạt động, Hiệu quả kỹ thuật.
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. 9 CHƯƠNG II. NHỮNG VÁN ĐÈ cơ BẢN VÈ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP. Những vấn đề chung về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Hiệu quả kỹ thuật trong hoạt động của doanh nghiệp. 21 CHƯƠNG III. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHÉ BIẾN GÔ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2013. Tổng quan chung về ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam.
Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Những thành tựu và hạn chế của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam trong thòi gian qua. Những co- hội và thách thức cho các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. 58 CHƯƠNG IV.
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN GỎ VIỆT NAM. Mô tả số liệu. Mô hình đánh giá các yếu tổ ảnh hưỏng tói hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp chế biến gỗ giai đoạn 2008-2012. 71 CHƯƠNG V: KIÉN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP.
Thảo luận kết quả nghiên cún, các giải pháp đề xuất và kết luận. Một số giải pháp đề xuất. Một số kiến nghị. 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
94 DANH MỤC CÁC CHỮVIÉT TẮT DEA: Phân tích Bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis) DMƯ: Đơn vị ra quyết định (Decision Making Unit) DN: Doanh nghiệp DNCBG: Doanh nghiệp chế biến gỗ DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước DNTN: Doanh nghiệp tư nhân GSO: Tông cục Thông kê HTX: Họp tác xã NHTM: Ngân hàng thương mại PTE: Hiệu quả kỹ thuật thuần SE: Hiệu quả quy mô SXKD: Sản xuất kinh doanh TE: Hiệu quả kỹ thuật WTO: Tổ chức Thương mại thế giới DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH VẼ DANH MỤC BẢNG Bảng 3. Kết quả khảo sát 120 doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Namnăm 2010. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng. Tỷ lệ sử dụng nguyên liệu nội địa.
Thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ về Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam. Giá trị tiêu thụ gỗ nội địa. Cơ sở chế biến gỗ theo loại hình doanh nghiệp năm 2012.
Tỷ trọng phân bổ các doanh nghiệp theo vùng năm 2012. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp chế biến gỗ theo giá hiện hành. Giá trị sản xuất công nghiệp chế biến gỗ theo thành phần kinh tế. Mô tả số liệu.
Kết quả ước lượng TE, PTE, SE của các doanh nghiệp chếbiến gỗ VN 65 Bảng 4. Hiệu quả theo quy mô của các loại hình doanh nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật (TE) của các doanh nghiệp chế biến gỗ. TE, PTE, SE bình quân giai đoạn 2008-2012 theo vùng.
Mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật. 73 DANH MỤC HÌNH Hình 2. Minh họa về hiệu quả kỹ thuật. Doanh nghiệp chế biến gồ theo quy mô năm 2012.
Công suất thiết kế và công suất sử dụng của các doanh nghiệp chế biến gỗ vùng Tây Nguyên. Tổng cầu nguyên liệu cho sản xuất đồ gỗ và nguồn cung. Thị phần xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam. Kim ngạch nhập khẩu sản phẩm gỗ của 5 nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới.
Tỷ trọng tiêu dùng gỗ nội địa. Hiện trạng phân bổ các cơ sở chế biến gỗ theo vùng, tiểu vùng năm 2012.48 TRƯỜNG ĐAI HOC KINH TÊ QUÔC DÃN 0O8D<G8Q8 PHẠM THỊ THU PHƯƠNG ĐÁNH GIÃ HIỆU QUẢ HOẠT DỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP LÂM SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2013 CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ HỌC TÓM TẮT LUẬN VÀN THẠC sĩ HÀ NỘI, NĂM 2014 Ì1. Ị lí i Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có thể đạt được kết quả đó. Độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào, do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Với vai trò là phương tiện đánh giá và phân tích kinh tế, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng ở mức độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng đầu vào ở toàn bộ doanh nghiệp mà còn đánh giá được trình độ sử dụng từng yếu tổ đầu vào ở từng bộ phận của doanh nghiệp. Ngành công nghiệp chế biển gỗ Việt Nam trong thời gian qua đã có những đóng góp quan trọng trong phát triển lâm nghiệp và cho nền kinh tế quốc dân nói chung.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, công nghiệp chế biến gỗ đã có những thay đổi đáng kể, biểu hiện rõ nét nhất là sự tăng lên của số lượng các doanh nghiệp và cơ sở chế biến gỗ. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ, sản xuất kết hợp giữa thủ công và cơ khí. số lượng các doanh nghiệp đầu tư mới về thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất còn thấp, mức độ đầu tư chưa cao. Đại bộ phận các doanh nghiệp sản xuất gỗ, đặc biệt là đồ gỗ mỹ nghệ có hệ thống thiết bị lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường.
Các doanh nghiệp chế biến gỗ hiện nay vừa nhỏ, lại vừa phân tán và phân bố không đều. Các cơ sở chế biến gỗ có quy mô lớn tập trung chủ yếu tại các tỉnh Đông Nam Bộ như Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai. Các cơ sở chế biến gỗ có quy mô hộ gia đình, Hợp tác xã chiếm phần lớn trong tỷ trọng các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Các cơ sở này chủ yếu tập trung ở các vùng nông ii thôn, miền núi, sản xuất nhỏ lẻ.
Bên cạnh đó, số lượng và chất lượng đội ngũ công nhân chế biển gỗ của Việt Nam nhìn chung cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành, còn thiếu nhiều kỹ năng. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã và đang gây ra nhiều khó khăn cho ngành chế biến gỗ Việt Nam như thị trường xuất khẩu trọng điểm bị thu hẹp, hàng hóa tồn đọng, giá đầu ra giảm, dẫn tới các đặt hàng vừa giảm vừa khó thực hiện,. Đây là một thách thức rất lớn đặt ra cho các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Tính đến nay, đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến hiệu quả hoạt động và hiệu quả kỹ thuật ở trong và ngoài nước.
Đối với các việc phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động, đã có những nghiên cứu của: - c. Walsh (2008), trong cuốn “Các chỉ số cổt yếu trong quản lý”, NXB Tổng hợp TP. HCM đã đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dựa trên các nhóm hệ số tài chính và khả năng sinh lợi. Ngoài ra tác giả cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Norton (2010), trong cuốn “Thẻ điểm cân bằng - Biến chiến lược thành hành động” - NXB Trẻ đã đưa ra một hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động mang tính cách mạng, giúp các doanh nghiệp biến các tài sản vô hình như con người, thông tin và văn hóa thành các kết quả hữu hình. Simon (2000), trong “Performance Measurement and Control System for Impleming Strategy” đã dựa vào các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tài liệu này cũng đưa ra hướng dẫn cho các doanh nghiệp xây dựng hệ thống kiểm soát và quản lý chất lượng nhằm đạt được hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh. - Nguyễn Tẩn Bình (2008) trong cuốn “Phân tích hoạt động doanh nghiệp”, NXB Thống đã đưa ra đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dựa trên phân tích nhóm các hệ sổ tài chính.
- Nguyễn Thị Ngân (2012) trong Luận văn tốt nghiệp với đề tài “ứng dụng mô hình Camel và phưong pháp DEA đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống ỉii ngân hàng thương mại Việt Nam” đã đưa ra kết luận: hiệu quả hoạt động trung bình của các NHTM Việt Nam có xu hướng giảm trong giai đoạn 2009-2011. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra tầm quan trọng của 5 yếu tố trong mô hình Camel tác động tới hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Dựa trên kết quả đó, tác giả đưa ra những kiến nghị, đề xuất cụ thể nham nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam. Ngoài ra, trong những năm gần đây, việc phân tích hiệu quả kỹ thuật cũng ngày càng nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là hiệu quả kỹ thuật trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
Cụ thể: - Farell (1957), tiến hành đo lường năng suất và hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận này thì hệ sổ hiệu quả kỹ thuật được thể hiện thông qua tỷ lệ hàm năng suất thực tế và hàm năng suất tiềm năng. Nếu doanh nghiệp có hệ số hiệu quả kỹ thuật gần bàng 1 thể hiện được doanh nghiệp đó hoạt động có hiệu quả và có khả năng cạnh tranh. Nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu quả kỹ thuật cho phép đánh giá khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong đó doanh nghiệp nào có hiệu quả kỹ thuật cao hơn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn.
- Aigner và các đồng nghiệp (1977) sử dụng phương pháp năng suất tối đa cho ngành nông nghiệp của Hoa Kỳ. Kalirajan và Flinn (1981) và các tác giả khác cũng sử dụng hàm này để phân tích cho các hộ nông dân sản xuất lúa ở Philipin. Các nghiên cứu này đều cho ra mức hiệu quả kỹ thuật bình quân. Nhưng một trong những hạn chế của các nghiên cứu là không tách được phần sai số ra làm hai phần, đâu là phần bất hiệu quả, đâu là phần sai sổ thống kê.
- Nghiêm và Coelli (2002) sử dụng phương pháp bao dữ liệu để đo lường hiệu quả kỹ thuật và tăng trưởng năng suất của ngành gạo Việt Nam trong giai đoạn 1976-1997; qua đó đưa ra kết luận rằng hiệu quả kỹ thuật của ngành chỉ tăng với tốc độ rất thấp dưới 0,4% / năm.