CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 1. Các khái niệm Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới được đề xuất vào thập niên 1960 bởi King (1969). Lịch sử phát triển về khái niệm mô hình NLKH được các nhà nghiên cứu diễn tả và phát triển nó [30].
Nông lâm kết hợp là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với hoa màu và/hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn [34]. Nông lâm kết hợp là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp.) được trồng có suy tính trên cùng một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới dạng xen theo không gian hay theo thời gian. Trong các hệ thống nông lâm kết hợp có mối tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng [33]. Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương (PCARRD, 1979) (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn 1994)[9].
Nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông c 4 trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường sinh thái của các mức độ nông trại kinh tế hộ nhỏ đến "kinh tế trang trại".Một cách đơn giản,Nông lâm kết hợp là trồng cây trên nông trại (ICRAF, 1997)[19]. Đặc điểm các mô hình Nông lâm kết hợp Theo ICRAF, một hệ thống canh tác sử dụng đất được gọi là nông lâm kết hợp có đặc điểm sau: - Kỹ thuật nông lâm thường bao gồm hai hay nhiều hơn hai loại thực vật (hay động vật và thực vật) trong đó ít nhất phải có một loại cây thân gỗ đa niên. - Có ít nhất hai hay nhiều hơn sản phẩm từ hệ thống. - Chu kỳ sản xuất thường dài hơn là một năm.
- Đa dạng hơn về sinh thái (cấu trúc và nhiệm vụ) và về kinh tế so với canh tác độc canh. - Cần có một mối quan hệ hỗ tương có ý nghĩa giữa thành phần cây gỗ và các thành phần khác [19]. Tình hình nghiên cứu về NLKH trên thế giới Lịch sử phát triển nông lâm kết hợp thế giới Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới. Theo King (1987), cho đến thời Trung cổ ở châu Âu, vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là "chặt và đốt" rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp hoặc sau khi thu hoạch nông nghiệp.
Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ 19, và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920. Nhiều phương thức canh tác truyền thống ở châu Á, c 5 Châu Phi và khu vực nhiệt đới châu Mỹ đã có sự phối hợp cây thân gỗ với cây nông nghiệp để nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và tạo ra các sản phẩm phụ khác khác như: gỗ, củi, đồ gia dụng, v. Sự phát triển của hệ thống Taungya: - Giảm thiểu hoặc không gây tổn hại đến các loài cây rừng trồng là đối tượng cung cấp sản phẩm chủ yếu trong hệ thống - Sinh trưởng của cây rừng trồng không bị hạn chế bởi cây nông nghiệp - Tối ưu hóa về thời gian canh tác cây trồng nông nghiệp sẽ đảm bảo tỉ lệ sống và tốc độ sinh trưởng nhanh của cây trồng thân gỗ. - Loài cây rừng trồng có khả năng cạnh tranh với các loài cây nông nghiệp Chính vì vậy mà các hệ thống này chưa được xem xét như là một hệ thống quản lý sử dụng đất có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp (Nair, 1993) [35].
Các nhân tố làm tiền đề cho sự phát triển của nông lâm kết hợp trên phạm vi toàn cầu Nhiều nhân tố phát triển trong thập niên 70 của thế kỷ 20 đã tạo điều kiện cho việc công nhận nông lâm kết hợp là một hệ thống quản lý sử dụng đất có khả năng áp dụng cho cả trong nông nghiệp (trên nông trại) và lâm nghiệp (trên đất rừng). Các nhân tố này bao gồm: Sự tái thẩm định các chính sách lâm nghiệp của Tổ chức Lương Nông (FAO) thuộc Liên Hiệp Quốc; - Cuộc khủng hoảng năng lượng trong thập niên 70 của thế kỷ 20 và sau đó là sự leo thang về giá cả và thiếu phân bón; - Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc tế (IDRC) của Canada thiết lập dự án xác định các ưu tiên nghiên cứu về lâm nghiệp nhiệt đới. c 6 - Các thay đổi về chính sách phát triển nông thôn Việc phát triển các giống cây trồng ngũ cốc năng suất cao và các kỹ thuật thâm canh liên quan nhờ vào nỗ lực của một số Trung tâm và các chương trình quốc gia có liên quan đã tạo nên một sự thay đổi lớn về năng suất nông nghiệp mà thường được gọi là Cách mạng Xanh (Green Revolution) (Borlaug và Dowswell, 1988). Tuy nhiên các nhà quản lý và phát triển đã sớm nhận thấy rằng các kỹ thuật thâm canh mới đã làm tăng nhu cầu phân bón và các chi phí đầu vào khác trong khi đó vẫn còn một bộ phận lớn nông dân nghèo nằm ngoài tầm ảnh hưởng tích cực của cuộc cách mạng trên.
Phần lớn các Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế và các chương trình phát triển nông nghiệp quốc gia trong thời gian này chỉ mới tập trung nghiên cứu các loại cây trồng riêng rẽ trong khi thực tế nông dân lại canh tác một cách tổng hợp: trồng xen các loại cây nông nghiệp khác nhau, cây ngắn ngày với cây gỗ dài ngày, v. Sự thiếu sót này đã được nhiều nhà quản lý và hoạch định chính sách nhận ra [22]. Từ đầu thập niên 70, chính sách phát triển của Ngân hàng Thế giới đã bắt đầu chú ý hơn các vùng nông thôn nghèo cùng với sự tham gia của nông dân vào các chương trình phát triển nông thôn. Trong chương trình Lâm nghiệp xã hội của WB trong những năm 1980 không chỉ chứa đựng nhiều yếu tố của nông lâm kết hợp mà còn thiết kế trợ giúp nông dân thông qua gia tăng sản xuất lương thực thực phẩm, bảo vệ môi trường và phát huy các lợi ích truyền thống của rừng.
Trong thời gian này, bên cạnh phát triển nông nghiệp, FAO đặc biệt chú trọng nhấn mạnh vai trò quan trong của lâm nghiệp trong phát triển nông thôn, khuyến cáo nông dân và nhà nước nên chú trọng đặc biệt đến các ích lợi của rừng và cây thân gỗ đến sản xuất nông nghiệp, khuyến cáo các nhà quản lý sử dụng đất kết hợp cả nông nghiệp và lâm nghiệp vào hệ c 7 thống canh tác của họ. Nhiều khái niệm mới về lâm nghiệp như lâm nghiệp cộng đồng, lâm nghiệp xã hội đã được hình thành và áp dụng ở nhiều nước mà nông lâm kết hợp thường được xem là một phương thức sử dụng đất nhiều tiềm năng, đem lại những lợi ích trực tiếp cho cộng đồng địa phương và toàn xã hội. - Nạn phá rừng và tình trạng suy thoái môi trường Cuối thập niên 70 và các năm đầu thập niên 80, sự suy thoái tài nguyên môi trường toàn cầu, nhất là nạn phá rừng, đã trở thành mối quan tâm lo lắng lớn của toàn xã hội. Theo ước tính của FAO (1982), du canh là nguyên nhân tạo ra hơn 70% của tổng diện tích rừng nhiệt đới bị mất ở châu Phi; diện tích đất rừng bỏ hóa sau nương rẫy chiếm 26,5% diện tích rừng khép tán còn lại ở châu Phi, khoảng 16% ở châu Mỹ Latin và 22,7% ở khu vực nhiệt đới của châu Á.
- Sự hình thành Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm Kết Hợp (ICRAF) Vào tháng 7/1977, được sự ủy nhiệm của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC) của Canada, John Bene đã tiến hành dự án nghiên cứu với các mục tiêu: - Xác định các khoảng trống trong đào tạo và nghiên cứu lâm nghiệp thế giới; - Đánh giá sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nông nghiệp và lâm nghiệp ở các quốc gia nhiệt đới có thu nhập thấp và đề xuất nghiên cứu nhằm tối ưu hóa sử dụng đất; - Xây dựng các chương trình nghiên cứu lâm nghiệp nhằm tạo ra các tác động kinh tế, xã hội có ý nghĩa ở cho các nước đang phát triển; c 8 Mặc dù với mục đích ban đầu là xác định các ưu tiên nghiên cứu cho lâm nghiệp nhiệt đới, nhóm nghiên cứu của John Bene đã đi đến kết luận rằng: để tối ưu hóa sử dụng đất nhiệt đới, ưu tiên số một nên là nghiên cứu và phát triển các hệ thống kết hợp giữa lâm nghiệp với nông nghiệp và chăn nuôi. Hay nói cách khác, đã có một sự chuyển dịch trọng tâm từ lâm nghiệp sang những khái niệm sử dụng đất rộng hơn, phù hợp hơn ở cả hai phương diện trực tiếp (trước mắt) và dài hạn (Bene và cộng sự, 1977). Báo cáo dự án này của IDRC đã được các cơ quan quốc tế xem xét và dẫn đến sự hình thành Hội đồng Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp vào năm 1977, vào 1991 cơ quan này được đổi tên thành Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp (International Centre for Research in Agroforestry - ICRAF). Kể từ khi thành lập, ICRAF là tổ chức luôn đi đầu trong thu thập thông tin, tiến hành các dự án nghiên cứu, chuyển giao kết quả [21].
- Sự phát triển phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển Song song với sự phát triển khái niệm và các nghiên cứu kỹ thuật, phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển nông lâm kết hợp cũng không ngừng được cải thiện.