ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư hạ họng (UTHH - Hypopharyngeal Cancer) thuộc nhóm đường tiêu hóa và hô hấp trên, năm 2018 có 80606 bệnh nhân (BN) mắc mới và 34984 BN tử vong [1]. Ở Việt nam, theo Nguyễn Tuấn Hưng [2] ung thư hạ họng chiếm hàng thứ hai trong ung thư vùng đầu cổ - tai mũi họng, sau ung thư vòm mũi họng. Tỷ lệ mắc ở nam giới là 2,8/100 000/ năm, ở nữ chỉ là 0,3/100 000/ năm. Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương từ năm 1955 đến 2008, đã phẫu thuật 1030 bệnh nhân ung thư hạ họng và thanh quản, trong đó có 662 ung thư thanh quản (62,2%), và 368 ung thư hạ họng (37,8%) [3].
Hạ họng có ba cấu trúc giải phẫu bao xung quanh thanh quản là: xoang lê, thành sau hạ họng, và mặt sau nhẫn phễu. Ung thư hạ họng có bản chất là biểu mô vảy (chiếm > 95%), có tiên lượng xấu bởi khối u có xu hướng phát triển, lan tràn rộng, tái phát tại chỗ, phá hủy các cấu trúc giải phẫu của vùng ngã tư hạ họng - thanh quản, nơi đảm nhận các chức năng sinh lý quan trọng về sự sống còn của con người: là nuốt - ăn - uống; là thở - phát âm - giọng nói giao tiếp - chất lượng cuộc sống [4]. Điều trị UTHH đã trải qua ba giai đoạn chủ yếu: giai đoạn phẫu thuật triệt căn đã được thực hiện từ đầu thế kỷ XIX. Khoảng giữa thế kỷ XX các phẫu thuật bán phần - bảo tồn UTHH-TQ được áp dụng nhiều hơn.
Xạ trị và phẫu thuật đã là hai phương pháp cơ bản để lựa chọn điều trị cho UTHH của thời kỳ này [5]. Hóa chất đã được ứng dụng để điều trị cho các ung thư đầu cổ và hạ họng từ những năm 1960, với một số hóa chất cổ điển như: Bleomycin, 6- Thioguanine, Duazomycine, Leucovorine, Methotrexate [6]. Tuy vậy ở những thập niên 70-80, vẫn chưa có phác đồ hóa chất nào có hiệu quả và chỉ được coi là điều trị triệu chứng. Cho đến cuối thế kỷ XX với sự xuất hiện của Cisplatin-Platinum, một hóa chất mới và đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng điều trị cho UTHH.
Các hóa chất mới đã cho kết quả tỷ lệ đáp ứng lên tới 80%, đáp ứng hoàn toàn đã đạt được tới 40-50% [7]. Khái niệm “nhạy cảm với hóa chất và tia xạ” đã xuất hiện. Sự kết hợp các phương pháp điều trị hóa 2 chất, xạ trị và phẫu thuật, đó là một chiến lược điều trị đa mô thức đã được nghiên cứu, ứng dụng [8],[9]. Xu hướng mới này đã cho tiên lượng tốt hơn, nhiều nghiên cứu đã chứng minh điều trị hóa chất bổ trợ trước (HCBTT) chưa làm tăng nhiều tỷ lệ sống sót sau điều trị, nhưng đã làm giảm thể tích khối u.
Từ không có khả năng phẫu thuật thì đã có thể phẫu thuật được, từ phẫu thuật triệt căn cần chỉnh hình bằng vạt da cơ, hay cắt bỏ rộng cả thực quản, nối hỗng tràng thì có thể chuyển thành phẫu thuật triệt căn - toàn phần thường qui, và cũng có nhiều bệnh nhân đã thực hiện được phẫu thuật bảo tồn - giữ lại được các cơ quan, các cấu trúc giải phẫu của vùng hạ họng thanh quản. HCBTT còn làm tăng sự nhạy cảm cho điều trị tia xạ triệt để, cũng như làm giảm tỷ lệ di căn xa và ung thư thứ hai. Xu hướng điều trị bảo tồn đã giữ lại được chức năng sinh lý quan trọng, đảm bảo chất lượng cuộc sống [10],[11]. Một số hóa chất ứng dụng điều trị ung thư hạ họng và vùng đầu mặt cổ như: Leucovorine, Methotrexate, Cisplatin, 5-FU,Taxane, Nimotuzunab.Trong đó phác đồ có Taxane với Cisplatin và 5-FU (TCF-TPF - DCF-PCF) đã cho tỷ lệ đáp ứng cao; và về độc tính, tác dụng không mong muốn cũng ở mức độ cho phép [12],[13],[14].
Ở Việt Nam, với UTHH mới chỉ có một số nghiên cứu về HCBTT, tiếp theo là xạ trị [15],[16],[17], và chưa có nghiên cứu nào về HCBTT và tiếp theo phẫu thuật để điều trị ung thư hạ họng giai đoạn muộn, tiến triển tại chỗ. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Đánh giá điều trị ung thƣ biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III, IV (M0) bằng Cisplatin – Taxane và 5 FU trƣớc phẫu thuật và/ hoặc xạ trị” với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III,IV (M0). Đánh giá đáp ứng và một số độc tính của phác đồ bổ trợ trước TCF cho bệnh nhân ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III, IV (M0) trước phẫu thuật và/ hoặc xạ trị.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu về ung thƣ hạ họng và điều trị bảo tồn trong ung thƣ hạ họng 1. Trên thế giới Phẫu thuật ung thư hạ họng và thanh quản qua đường mở sụn giáp được thưc hiện bởi Pelletan (1788). Cắt thanh quản toàn phần được Theodor Billroth thực hiện năm 1873.
Năm 1879 Isamber và Krishaber, đề xuất phân loại khối u ở trong thanh quản và ngoài là hạ họng. Gorge Washington Crile (1906) mổ nạo vét hạch cổ. Sebileau (1904), Trotter (1913), St Clair Thomson (1928), mở sụn giáp cắt u hạ họng. Andre, Pinel và Laccourreye, thực hiện phẫu thuật cắt bỏ họng bên vào năm 1962 [5],[18].
Nội soi phẫu thuật Laser CO2 xuất hiện năm 1963 (Kleinsasser), Strong và Jaco (1972) [19]. Ứng dụng nội soi cắt bảo tồn khối u hạ họng qua đường miệng bởi các tác giả Nhật bản [20]. Với UTHH lan rộng cũng đã có nhiều công trình cắt bỏ rộng toàn bộ thanh quản - hạ họng - thực quản và thay thế thực quản bằng nối dạ dày hoặc hỗng tràng [21]. Sau phẫu thuật triệt căn thanh quản, đã được phục hồi giọng nói bằng mở lỗ khí quản - ống họng mới, bằng van phát âm, bằng thanh quản điện, bằng giọng thực quản [22].
Về xạ trị, năm 1903 Schepegre điều trị UTHH-TQ bằng tia X. Tia Cobalt - 60 được ứng dụng điều trị từ năm 1960. Archer (1984) phân loại UTHH - TQ trên phim chụp CLVT. Heppt W (1989) đã có nghiên cứu so sánh chẩn đoán hạch cổ di căn qua siêu âm, CT, MRI và lâm sàng.
Thập niên 1970- 1980, phẫu thụât triệt căn để rồi xạ trị hậu phẫu tỷ lệ sống sót dao động từ 20 - 48%. Sau năm1990, tỷ lệ bảo tồn thanh quản tăng lên tới 60% nhờ phẫu thuật bảo tồn, Laser, xạ trị điều biến liều và kết hợp hóa xạ trị đồng thời [23],[24]. Ở Việt nam Trần Hữu Tước là người đầu tiên mổ ung thư hạ họng - thanh quản (1956) và chuyển giao kỹ thuật mổ cho các học trò. Công trình khoa học nổi tiếng của Thầy là tận dụng niêm mạc xoang lê bên lành để tái tạo lại ống họng sau cắt thanh quản toàn phần và một phần hạ họng [25],[26],27],[28].
Năm 1965 và 1970, Trần Ngọc Dũng tổng kết 26 trường hợp UTTQ - HH và hạch cổ di căn tại bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng [29],[30]. Năm 1978, 1993, Trần Hữu Tuân báo cáo 320 trường hợp UTHH - TQ từ năm 1960-1988 và các nghiên cứu về phục hồi chức năng phát âm [31],[32]. Tại Bệnh viện K, Nguyễn Tiến Quang (2002) tổng kết 46 trường hợp UTHH - TQ giai đoạn muộn được xạ trị ngoài đơn thuần [33]. Năm 2005, Ngô Thanh Tùng báo cáo về xạ trị đơn thuần, xạ trị phối hợp hóa trị cho 61BN UTHH -TQ giai đoạn muộn [16].
Năm 2004, Phạm Tuấn Cảnh tổng kết 222 BN UTHH - TQ gặp trong 5 năm tại BV TMHTƯ [34]. Năm 2009, Nguyễn Đình Phúc tổng kết lâm sàng 61 BN UTHHTQ [35],[36]. Năm 2006, Tống Xuân Thắng báo cáo 58 BN UTHHTQ đã được phẫu thuật bảo tồn thanh quản [37]. Năm 2012 Lê Minh Kỳ đã tổng kết lâm sàng 62 BN UTHHTQ [38], và 2016 nhóm tác giả đã có báo cáo đầu tiên về đáp ứng của UTHH với hóa chất tại BVTMHTƯ trên 29 BN [39].
Năm 2012, Nguyễn Quốc Dũng tổng kết lâm sàng của 62BN UTHHTQ [40],[41]. Phạm Văn Hữu đã báo cáo 33 BN UTHH được phẫu thuật bảo tồn dưới nội soi [42]. Nguyễn Như ước [43],[44] đã báo cáo về lâm sàng và các yếu tố tiên lượng của UTHH. Những nghiên cứu về điều trị hóa chất, tia xạ đầu cổ và hạ họng của Từ Thị Thanh Hương (2006) nghiên cứu trên 51 BN UTHHTQ giai đoạn III-IV(M0) điều trị HCBTT với phác đồ CF [15], Đàm Trọng Nghĩa đã báo cáo trên 41 BN UTHHTQ được HCBTT và tiếp tục là xạ trị [17],[45].
Nghiên cứu phẫu thuật sau HCBTT với phác đồ CF trên bệnh nhân ung thư lưỡi mới chỉ có báo cáo của Lê Văn Quảng [46]. Giải phẫu định khu hạ họng và ứng dụng trong ung thƣ hạ họng. Giải phẫu định khu hạ họng. Hạ họng là phân đoạn ở dưới họng mũi, họng miệng, nó có ba vị trí giải phẫu là: xoang lê, thành sau hạ họng và vùng sau nhẫn phễu [47].
Giải phẫu của họng và hạ họng nhìn từ sau [47] 1. Xoang lê là hai khoảng rỗng, nằm vòng khung ở hai bên và sau thanh quản. Nó có hình tháp tam giác: đáy hướng lên trên mở rộng, thông với họng miệng; Thành ngoài liên tiếp với máng bên họng miệng, đi dọc xuống thu hẹp tạo đáy xoang lê là đỉnh ở phía dưới như bị cắt cụt và liên thông với mặt sau nhẫn phễu xuống miệng thực quản; Thành trong (hay thành giữa) có dải nẹp phễu thanh thiệt phủ ở trên, cùng tạo nên bờ thành ngăn cách với thanh quản bên trong. Thành sau hạ họng.
Thành sau hạ họng liên tiếp với thành sau họng miệng, được tính từ ngang tầm đầu trên của thanh thiệt, chạy dọc xuống tới cơ nhẫn họng ở ngang tầm sau nhẫn phễu. Vùng sau nhẫn phễu và miệng thực quản (Postcricoid area - Pharyngo Oesophageal Segment) Vùng sau nhẫn phễu: Tương ứng với mặt sau thanh quản, gồm mặt sau sụn phễu, cơ liên phễu và mặt sau của bản sụn nhẫn. Niêm mạc vùng này tương đối dầy và có nhiều nếp nhăn. Vùng miệng thực quản: Tương ứng với bờ dưới sụn nhẫn, ngang tầm đốt sống cổ 6, là lớp niêm mạc che phủ cho cơ nhẫn họng, cơ này chỉ mở ra khi nuốt.
Theo trường phái Anh thì ung thư miệng thực quản thuộc phạm vi hạ họng. Vùng sau sụn nhẫn (postcricoid area) tạo ranh giới họng - thực quản (UICC 1978) [48]. Cấu trúc niêm mạc - cơ - mạch máu thần kinh hạ họng 1. Niêm mạc + Niêm mạc thuộc biểu mô lát tầng, mô liên kết lỏng lẻo có thể bóc tách dễ dàng khỏi niêm mạc để tận dụng tối đa niêm mạc xoang lê cho tái tạo ống họng sau cắt bỏ khối u [25],[32].
+ Lớp đệm: Gồm các mô liên kết, sợi đàn hồi, nang bạch huyết. + Tuyến chế tiết: Có các tuyến chế tiết hình chùm, hình cầu, hình tấm.