Luận án đánh giá điều trị ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn iii iv m0 bằng cisplatin taxane và 5 fu trước phẫu thuật và hoặc xạ trị

Luận án đánh giá hiệu quả điều trị ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III IV M0 bằng cisplatin, taxane và 5-FU trước phẫu thuật và xạ trị.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Tai Mũi Họng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

181
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lịch sử nghiên cứu về ung thư hạ họng và điều trị bảo tồn trong ung thư hạ họng

1.1.1. Trên thế giới

1.2. Giải phẫu định khu hạ họng và ứng dụng trong ung thư hạ họng

1.2.1. Giải phẫu định khu hạ họng

1.2.2. Cấu trúc niêm mạc - cơ - mạch máu thần kinh hạ họng

1.2.3. Sinh lý của hạ họng

1.2.4. Ứng dụng giải phẫu hạ họng trong chẩn đoán và điều trị UTHH

1.3. Đặc điểm dịch tễ học, nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

1.3.1. Dịch tễ học

1.3.2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh

1.4. Đặc điểm bệnh học ung thư hạ họng

1.4.1. Đặc điểm lâm sàng

1.4.2. Đặc điểm cận lâm sàng

1.5. Chẩn đoán ung thư hạ họng

1.6. Điều trị hóa chất bổ trợ trước trong ung thư hạ họng

1.6.1. Ưu nhược điểm của HCBTT

1.6.2. Một số phác đồ HCBTT thường được sử dụng trong UTHHTQ

1.6.3. Một số nghiên cứu về điều trị HCBTT ung thư hạ họng giai đoạn muộn

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

2.4. Phương pháp nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.5. Nội dung và thông số nghiên cứu

2.6. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.7. Các tiêu chuẩn chẩn đoán, đánh giá, phân loại, áp dụng trong nghiên cứu

2.8. Thuốc sử dụng cho phác đồ HCBTT và trang thiết bị nghiên cứu

2.9. Trang thiết bị nghiên cứu

2.10. Địa điểm nghiên cứu

2.11. Thu thập và xử lý số liệu

2.12. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III, IV (M0)

3.1.1. Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng

3.1.2. Đặc điểm lâm sàng

3.1.3. Đặc điểm cận lâm sàng

3.2. Chẩn đoán giai đoạn trước điều trị hóa chất

3.3. Đánh giá đáp ứng và một số độc tính của phác đồ bổ trợ trước TCF cho bệnh nhân ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III, IV (M0) trước phẫu thuật và/ hoặc xạ trị

3.3.1. Đánh giá đáp ứng theo RECIST và đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

3.3.2. Độc tính và tác dụng không mong muốn của hóa chất bổ trợ trước 3 chu kỳ phác đồ TCF

3.4. Thời gian sống thêm sau HCBTT tiếp theo phẫu thuật và/hoặc xạ trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III- IV (M0)

4.1.1. Đặc điểm lâm sàng

4.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng

4.2. Chẩn đoán giai đoạn trước điều trị hóa chất

4.3. Đánh giá đáp ứng và một số độc tính của phác đồ bổ trợ trước TCF cho bệnh nhân ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III – IV (M0) trước phẫu thuật và/ hoặc xạ trị

4.4. Đánh giá đáp ứng sau 3 chu kỳ HCBTT phác đồ TCF

4.5. Đánh giá độc tính và tác dụng không mong muốn của phác đồ Cisplatin - Taxane - 5 FU

4.6. Thời gian sống thêm

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về ung thư biểu mô vảy hạ họng

Ung thư biểu mô vảy hạ họng (UTHH) là một trong những loại ung thư phổ biến trong nhóm ung thư đầu cổ, với tỷ lệ mắc cao và tiên lượng xấu. Theo thống kê, UTHH chiếm khoảng 2,8/100.000 ở nam giới và 0,3/100.000 ở nữ giới. Đặc điểm lâm sàng của UTHH thường bao gồm triệu chứng nuốt khó, đau họng, và khối u có thể lan rộng ra các cấu trúc lân cận. Việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng để cải thiện tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân. Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị, trong đó hóa trị bổ trợ trước (HCBTT) đã cho thấy hiệu quả trong việc giảm kích thước khối u và tăng khả năng phẫu thuật. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phác đồ hóa trị kết hợp Cisplatin, Taxane và 5-FU trong điều trị UTHH giai đoạn III-IV.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học và nguyên nhân

Dịch tễ học của UTHH cho thấy sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh trong những năm gần đây. Nguyên nhân chính dẫn đến UTHH bao gồm hút thuốc lá, uống rượu, và tiếp xúc với các chất độc hại. Các yếu tố nguy cơ này đã được xác định qua nhiều nghiên cứu lâm sàng. Việc hiểu rõ về nguyên nhân và yếu tố nguy cơ sẽ giúp trong việc phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn.

1.2. Các phương pháp điều trị hiện tại

Phẫu thuật triệt căn là phương pháp điều trị chính cho UTHH, tuy nhiên, hóa trị và xạ trị cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả điều trị. HCBTT đã được chứng minh là có khả năng làm giảm kích thước khối u, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật. Các phác đồ hóa trị như Cisplatin, Taxane và 5-FU đã cho thấy tỷ lệ đáp ứng cao và độc tính ở mức chấp nhận được.

II. Phác đồ điều trị và hiệu quả

Phác đồ điều trị hóa chất bổ trợ trước (HCBTT) với sự kết hợp của Cisplatin, Taxane5-FU đã được áp dụng cho bệnh nhân UTHH giai đoạn III-IV. Nghiên cứu cho thấy phác đồ này không chỉ giúp giảm kích thước khối u mà còn làm tăng tỷ lệ phẫu thuật thành công. Đánh giá đáp ứng điều trị được thực hiện theo tiêu chuẩn RECIST, cho thấy tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn và một phần đạt mức cao. Độc tính của phác đồ cũng được theo dõi chặt chẽ, với các tác dụng phụ như buồn nôn, nôn, và giảm bạch cầu. Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân đều có thể chịu đựng được và tiếp tục điều trị.

2.1. Đánh giá hiệu quả điều trị

Kết quả nghiên cứu cho thấy phác đồ HCBTT với Cisplatin, Taxane5-FU có hiệu quả rõ rệt trong việc giảm kích thước khối u. Tỷ lệ đáp ứng khách quan đạt khoảng 70%, trong đó có 30% bệnh nhân đạt đáp ứng hoàn toàn. Điều này cho thấy phác đồ này có tiềm năng lớn trong việc cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân UTHH giai đoạn muộn.

2.2. Tác dụng phụ và quản lý

Mặc dù phác đồ HCBTT mang lại hiệu quả cao, nhưng cũng không thể tránh khỏi các tác dụng phụ. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm buồn nôn, nôn, và giảm bạch cầu. Việc quản lý các tác dụng phụ này là rất quan trọng để đảm bảo bệnh nhân có thể tiếp tục điều trị mà không bị gián đoạn. Các biện pháp hỗ trợ như thuốc chống nôn và theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe của bệnh nhân đã được áp dụng để giảm thiểu tác động tiêu cực của hóa trị.

III. Kết luận và triển vọng

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng phác đồ HCBTT với Cisplatin, Taxane5-FU là một lựa chọn điều trị hiệu quả cho bệnh nhân UTHH giai đoạn III-IV. Kết quả cho thấy phác đồ này không chỉ giúp giảm kích thước khối u mà còn cải thiện khả năng phẫu thuật. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về hiệu quả lâu dài và các yếu tố tiên lượng liên quan. Việc phát triển các phác đồ điều trị mới và cải tiến kỹ thuật điều trị sẽ là hướng đi quan trọng trong tương lai để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

3.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần tiến hành các nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn hơn để xác định rõ hơn về hiệu quả và độ an toàn của phác đồ HCBTT. Ngoài ra, việc nghiên cứu các biomarker có thể giúp dự đoán đáp ứng điều trị cũng là một hướng đi tiềm năng trong việc cá nhân hóa điều trị cho bệnh nhân UTHH.

3.2. Tầm quan trọng của điều trị đa mô thức

Điều trị đa mô thức, bao gồm phẫu thuật, hóa trị và xạ trị, đã chứng minh là có hiệu quả trong việc cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân UTHH. Việc kết hợp các phương pháp này không chỉ giúp tăng tỷ lệ sống sót mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư hạ họng (UTHH - Hypopharyngeal Cancer) thuộc nhóm đường tiêu hóa và hô hấp trên, năm 2018 có 80606 bệnh nhân (BN) mắc mới và 34984 BN tử vong [1]. Ở Việt nam, theo Nguyễn Tuấn Hưng [2] ung thư hạ họng chiếm hàng thứ hai trong ung thư vùng đầu cổ - tai mũi họng, sau ung thư vòm mũi họng. Tỷ lệ mắc ở nam giới là 2,8/100 000/ năm, ở nữ chỉ là 0,3/100 000/ năm. Bệnh viện Tai mũi họng Trung ương từ năm 1955 đến 2008, đã phẫu thuật 1030 bệnh nhân ung thư hạ họng và thanh quản, trong đó có 662 ung thư thanh quản (62,2%), và 368 ung thư hạ họng (37,8%) [3].

Hạ họng có ba cấu trúc giải phẫu bao xung quanh thanh quản là: xoang lê, thành sau hạ họng, và mặt sau nhẫn phễu. Ung thư hạ họng có bản chất là biểu mô vảy (chiếm > 95%), có tiên lượng xấu bởi khối u có xu hướng phát triển, lan tràn rộng, tái phát tại chỗ, phá hủy các cấu trúc giải phẫu của vùng ngã tư hạ họng - thanh quản, nơi đảm nhận các chức năng sinh lý quan trọng về sự sống còn của con người: là nuốt - ăn - uống; là thở - phát âm - giọng nói giao tiếp - chất lượng cuộc sống [4]. Điều trị UTHH đã trải qua ba giai đoạn chủ yếu: giai đoạn phẫu thuật triệt căn đã được thực hiện từ đầu thế kỷ XIX. Khoảng giữa thế kỷ XX các phẫu thuật bán phần - bảo tồn UTHH-TQ được áp dụng nhiều hơn.

Xạ trị và phẫu thuật đã là hai phương pháp cơ bản để lựa chọn điều trị cho UTHH của thời kỳ này [5]. Hóa chất đã được ứng dụng để điều trị cho các ung thư đầu cổ và hạ họng từ những năm 1960, với một số hóa chất cổ điển như: Bleomycin, 6- Thioguanine, Duazomycine, Leucovorine, Methotrexate [6]. Tuy vậy ở những thập niên 70-80, vẫn chưa có phác đồ hóa chất nào có hiệu quả và chỉ được coi là điều trị triệu chứng. Cho đến cuối thế kỷ XX với sự xuất hiện của Cisplatin-Platinum, một hóa chất mới và đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng điều trị cho UTHH.

Các hóa chất mới đã cho kết quả tỷ lệ đáp ứng lên tới 80%, đáp ứng hoàn toàn đã đạt được tới 40-50% [7]. Khái niệm “nhạy cảm với hóa chất và tia xạ” đã xuất hiện. Sự kết hợp các phương pháp điều trị hóa 2 chất, xạ trị và phẫu thuật, đó là một chiến lược điều trị đa mô thức đã được nghiên cứu, ứng dụng [8],[9]. Xu hướng mới này đã cho tiên lượng tốt hơn, nhiều nghiên cứu đã chứng minh điều trị hóa chất bổ trợ trước (HCBTT) chưa làm tăng nhiều tỷ lệ sống sót sau điều trị, nhưng đã làm giảm thể tích khối u.

Từ không có khả năng phẫu thuật thì đã có thể phẫu thuật được, từ phẫu thuật triệt căn cần chỉnh hình bằng vạt da cơ, hay cắt bỏ rộng cả thực quản, nối hỗng tràng thì có thể chuyển thành phẫu thuật triệt căn - toàn phần thường qui, và cũng có nhiều bệnh nhân đã thực hiện được phẫu thuật bảo tồn - giữ lại được các cơ quan, các cấu trúc giải phẫu của vùng hạ họng thanh quản. HCBTT còn làm tăng sự nhạy cảm cho điều trị tia xạ triệt để, cũng như làm giảm tỷ lệ di căn xa và ung thư thứ hai. Xu hướng điều trị bảo tồn đã giữ lại được chức năng sinh lý quan trọng, đảm bảo chất lượng cuộc sống [10],[11]. Một số hóa chất ứng dụng điều trị ung thư hạ họng và vùng đầu mặt cổ như: Leucovorine, Methotrexate, Cisplatin, 5-FU,Taxane, Nimotuzunab.Trong đó phác đồ có Taxane với Cisplatin và 5-FU (TCF-TPF - DCF-PCF) đã cho tỷ lệ đáp ứng cao; và về độc tính, tác dụng không mong muốn cũng ở mức độ cho phép [12],[13],[14].

Ở Việt Nam, với UTHH mới chỉ có một số nghiên cứu về HCBTT, tiếp theo là xạ trị [15],[16],[17], và chưa có nghiên cứu nào về HCBTT và tiếp theo phẫu thuật để điều trị ung thư hạ họng giai đoạn muộn, tiến triển tại chỗ. Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Đánh giá điều trị ung thƣ biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III, IV (M0) bằng Cisplatin – Taxane và 5 FU trƣớc phẫu thuật và/ hoặc xạ trị” với hai mục tiêu sau: 1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III,IV (M0). Đánh giá đáp ứng và một số độc tính của phác đồ bổ trợ trước TCF cho bệnh nhân ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III, IV (M0) trước phẫu thuật và/ hoặc xạ trị.

3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu về ung thƣ hạ họng và điều trị bảo tồn trong ung thƣ hạ họng 1. Trên thế giới Phẫu thuật ung thư hạ họng và thanh quản qua đường mở sụn giáp được thưc hiện bởi Pelletan (1788). Cắt thanh quản toàn phần được Theodor Billroth thực hiện năm 1873.

Năm 1879 Isamber và Krishaber, đề xuất phân loại khối u ở trong thanh quản và ngoài là hạ họng. Gorge Washington Crile (1906) mổ nạo vét hạch cổ. Sebileau (1904), Trotter (1913), St Clair Thomson (1928), mở sụn giáp cắt u hạ họng. Andre, Pinel và Laccourreye, thực hiện phẫu thuật cắt bỏ họng bên vào năm 1962 [5],[18].

Nội soi phẫu thuật Laser CO2 xuất hiện năm 1963 (Kleinsasser), Strong và Jaco (1972) [19]. Ứng dụng nội soi cắt bảo tồn khối u hạ họng qua đường miệng bởi các tác giả Nhật bản [20]. Với UTHH lan rộng cũng đã có nhiều công trình cắt bỏ rộng toàn bộ thanh quản - hạ họng - thực quản và thay thế thực quản bằng nối dạ dày hoặc hỗng tràng [21]. Sau phẫu thuật triệt căn thanh quản, đã được phục hồi giọng nói bằng mở lỗ khí quản - ống họng mới, bằng van phát âm, bằng thanh quản điện, bằng giọng thực quản [22].

Về xạ trị, năm 1903 Schepegre điều trị UTHH-TQ bằng tia X. Tia Cobalt - 60 được ứng dụng điều trị từ năm 1960. Archer (1984) phân loại UTHH - TQ trên phim chụp CLVT. Heppt W (1989) đã có nghiên cứu so sánh chẩn đoán hạch cổ di căn qua siêu âm, CT, MRI và lâm sàng.

Thập niên 1970- 1980, phẫu thụât triệt căn để rồi xạ trị hậu phẫu tỷ lệ sống sót dao động từ 20 - 48%. Sau năm1990, tỷ lệ bảo tồn thanh quản tăng lên tới 60% nhờ phẫu thuật bảo tồn, Laser, xạ trị điều biến liều và kết hợp hóa xạ trị đồng thời [23],[24]. Ở Việt nam Trần Hữu Tước là người đầu tiên mổ ung thư hạ họng - thanh quản (1956) và chuyển giao kỹ thuật mổ cho các học trò. Công trình khoa học nổi tiếng của Thầy là tận dụng niêm mạc xoang lê bên lành để tái tạo lại ống họng sau cắt thanh quản toàn phần và một phần hạ họng [25],[26],27],[28].

Năm 1965 và 1970, Trần Ngọc Dũng tổng kết 26 trường hợp UTTQ - HH và hạch cổ di căn tại bệnh viện Việt Tiệp - Hải Phòng [29],[30]. Năm 1978, 1993, Trần Hữu Tuân báo cáo 320 trường hợp UTHH - TQ từ năm 1960-1988 và các nghiên cứu về phục hồi chức năng phát âm [31],[32]. Tại Bệnh viện K, Nguyễn Tiến Quang (2002) tổng kết 46 trường hợp UTHH - TQ giai đoạn muộn được xạ trị ngoài đơn thuần [33]. Năm 2005, Ngô Thanh Tùng báo cáo về xạ trị đơn thuần, xạ trị phối hợp hóa trị cho 61BN UTHH -TQ giai đoạn muộn [16].

Năm 2004, Phạm Tuấn Cảnh tổng kết 222 BN UTHH - TQ gặp trong 5 năm tại BV TMHTƯ [34]. Năm 2009, Nguyễn Đình Phúc tổng kết lâm sàng 61 BN UTHHTQ [35],[36]. Năm 2006, Tống Xuân Thắng báo cáo 58 BN UTHHTQ đã được phẫu thuật bảo tồn thanh quản [37]. Năm 2012 Lê Minh Kỳ đã tổng kết lâm sàng 62 BN UTHHTQ [38], và 2016 nhóm tác giả đã có báo cáo đầu tiên về đáp ứng của UTHH với hóa chất tại BVTMHTƯ trên 29 BN [39].

Năm 2012, Nguyễn Quốc Dũng tổng kết lâm sàng của 62BN UTHHTQ [40],[41]. Phạm Văn Hữu đã báo cáo 33 BN UTHH được phẫu thuật bảo tồn dưới nội soi [42]. Nguyễn Như ước [43],[44] đã báo cáo về lâm sàng và các yếu tố tiên lượng của UTHH. Những nghiên cứu về điều trị hóa chất, tia xạ đầu cổ và hạ họng của Từ Thị Thanh Hương (2006) nghiên cứu trên 51 BN UTHHTQ giai đoạn III-IV(M0) điều trị HCBTT với phác đồ CF [15], Đàm Trọng Nghĩa đã báo cáo trên 41 BN UTHHTQ được HCBTT và tiếp tục là xạ trị [17],[45].

Nghiên cứu phẫu thuật sau HCBTT với phác đồ CF trên bệnh nhân ung thư lưỡi mới chỉ có báo cáo của Lê Văn Quảng [46]. Giải phẫu định khu hạ họng và ứng dụng trong ung thƣ hạ họng. Giải phẫu định khu hạ họng. Hạ họng là phân đoạn ở dưới họng mũi, họng miệng, nó có ba vị trí giải phẫu là: xoang lê, thành sau hạ họng và vùng sau nhẫn phễu [47].

Giải phẫu của họng và hạ họng nhìn từ sau [47] 1. Xoang lê là hai khoảng rỗng, nằm vòng khung ở hai bên và sau thanh quản. Nó có hình tháp tam giác: đáy hướng lên trên mở rộng, thông với họng miệng; Thành ngoài liên tiếp với máng bên họng miệng, đi dọc xuống thu hẹp tạo đáy xoang lê là đỉnh ở phía dưới như bị cắt cụt và liên thông với mặt sau nhẫn phễu xuống miệng thực quản; Thành trong (hay thành giữa) có dải nẹp phễu thanh thiệt phủ ở trên, cùng tạo nên bờ thành ngăn cách với thanh quản bên trong. Thành sau hạ họng.

Thành sau hạ họng liên tiếp với thành sau họng miệng, được tính từ ngang tầm đầu trên của thanh thiệt, chạy dọc xuống tới cơ nhẫn họng ở ngang tầm sau nhẫn phễu. Vùng sau nhẫn phễu và miệng thực quản (Postcricoid area - Pharyngo Oesophageal Segment) Vùng sau nhẫn phễu: Tương ứng với mặt sau thanh quản, gồm mặt sau sụn phễu, cơ liên phễu và mặt sau của bản sụn nhẫn. Niêm mạc vùng này tương đối dầy và có nhiều nếp nhăn. Vùng miệng thực quản: Tương ứng với bờ dưới sụn nhẫn, ngang tầm đốt sống cổ 6, là lớp niêm mạc che phủ cho cơ nhẫn họng, cơ này chỉ mở ra khi nuốt.

Theo trường phái Anh thì ung thư miệng thực quản thuộc phạm vi hạ họng. Vùng sau sụn nhẫn (postcricoid area) tạo ranh giới họng - thực quản (UICC 1978) [48]. Cấu trúc niêm mạc - cơ - mạch máu thần kinh hạ họng 1. Niêm mạc + Niêm mạc thuộc biểu mô lát tầng, mô liên kết lỏng lẻo có thể bóc tách dễ dàng khỏi niêm mạc để tận dụng tối đa niêm mạc xoang lê cho tái tạo ống họng sau cắt bỏ khối u [25],[32].

+ Lớp đệm: Gồm các mô liên kết, sợi đàn hồi, nang bạch huyết. + Tuyến chế tiết: Có các tuyến chế tiết hình chùm, hình cầu, hình tấm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án đánh giá hiệu quả điều trị ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn III-IV bằng cisplatin, taxane và 5-FU trước phẫu thuật và xạ trị" của tác giả Phùng Thị Hòa, dưới sự hướng dẫn của PGS. Tống Xuân Thắng tại Trường Đại học Y Hà Nội, tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn muộn. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các liệu pháp hóa trị hiện tại mà còn mở ra hướng đi mới cho việc điều trị ung thư, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Đặc biệt, luận án này có thể là nguồn tài liệu quý giá cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực y học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến ung thư và phương pháp điều trị, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như Nghiên cứu cải thiện khả năng mang thuốc chống ung thư cisplatin của nano dendrimer, nơi nghiên cứu về việc nâng cao hiệu quả của cisplatin trong điều trị ung thư, hoặc Luận án tiến sĩ về thiết kế và tổng hợp acid hydroxamic mang khung quinazolin trong điều trị ung thư, cung cấp cái nhìn về các hợp chất mới trong điều trị ung thư. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các phương pháp điều trị ung thư hiện đại.