Chương 1. Nêu lí do chọn để tài, mục đích nghiên cứu, tóm lược nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Trình bày điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tình hình kinh tế xã hội của thị xã An Khê- tinh Gia Lai. Trình bày các khái niệm về công tác KN, IPM, ICM, các phương pháp KN, đối tượng nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của công tác KN, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả và kết quả san xuất.
Trình bày khái quát tình hình tổ chức và hoạt động của trạm KN thị xã An Khê, đưa ra đánh giá chung về các hoạt động của trạm. Đánh giá hiệu quả của một số chương trình KN, tìm hiểu thái độ của người dân đối với KN. Đưa ra kết luận và nhận xét kết quả nghiên cứu. Đưa ra những kiến nghị đến các cơ quan chức năng để duy trì và nâng cao hơn nữa chất lượng của công tác KN.
——mnma=anss=mmm=m ——=—~————— = CHUONG 2 TONG QUAN 2. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Đề tài “Đánh giá hiệu quả của công tác khuyến nông trên 3 chương trình khuyến nông (IPM, ICM, cây mia) ở dia ban thi xã An Khê - tinh Gia Lai” chủ yéu đánh giá hiệu quả hoạt động của tram KN thị xã An Khê dựa trên 3 chương trình KN chính: IPM trên rau, ICM trên lúa, cay mía. Trong mỗi chương trình có so sánh về hiệu quả kinh tế của nông hộ trước khi tham gia KN và sau khi tham gia KN. Ngoài ra, hiệu quả của KN còn được thể hiện qua số lượng các mô hình trình diễn, số lượng nông dfn tham gia và số lượng mô hình được áp dụng vào thực tế.
Bên cạnh đó, thông qua việc điều tra phỏng van nông hộ có tham gia KN để đánh giá mức độ nhận thức của nguời đân đối với công tác KN. Sự sáng tao của dé tài: “Đánh giá hiệu quả của công tác khuyến nông trên 3 chương trình khuyến nông (IPM, ICM, cây mía) ở địa bàn thị xã An Khê - tỉnh Gia Lai” chính là việc tác giả đã so sánh hiệu quả kinh tế của hộ trước và sau khi tham gia công tác KN thay vì so sánh giữa hộ không tham gia KN và có tham gia KN. Hơn nữa, tác giả đã làm rõ những lợi ích KN mang lại cho người dân thông qua việc phân tích phần mắt đi và phan đạt được khi áp dụng tiến bộ mới đo KN mang lại. Đánh giá hiệu quả của công tác KN không phải là một vấn đề nghiên cứu mới nhưng nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo dựng lòng tin của người dân vào công tác KN, thuyết phục họ tham gia KN ngày càng nhiều hơn.
Đặc điểm tổng quát của dia bàn nghiên cứu 2. Điều kiện tự nhiên a) Vi trí địa lý An Khê là một thị xã miền núi, nằm ở Đông dãy núi Trường Sơn, cửa ngõ phía Đông của Tỉnh Gia Lai liên thông với các tỉnh duyên hải miền Trung và cảng biển ——=::: mm. eee Quy Nhơn, cách thành phố Pleiku 90km và cách thành phố Quy Nhơn 80km, là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - xã hội giữa các vùng. An Khê có điện tích tự nhiên là 20.031,19 ha; có quốc lộ 19 đi qua, đây là trục giao thông huyết mạch nối liền vùng duyén hải miền Trung với Tây Nguyên và các tỉnh Đông Bắc Campuchia.
An Khê còn là đầu mối giao lưu kinh tế với các huyện K Bang, Kông Chro và Dak Po. Các vi trí tiếp giáp của thị xã An Khê như sau: Phía Đông giáp huyện Tay Sơn - tinh Bình Dinh Phía Tây và Nam giáp huyện Dak Po - tỉnh Gia Lai Phía Bắc giáp huyện K’Bang - tỉnh Gia Lai.307 người, chiếm 5,3% dân số toàn tỉnh Gia Lai. Mật độ dân số: 362 người/ km”. Trong đó dân số thành thị là 36.234 người, dân số nông thôn là 29.
Thị xã An Khê có 8 đơn vị hành chính bao gồm 4 phường, 4 xã: Xã Tú An (6.326,95 ha) Xã Song An (5.456,43 ha) Xã Thanh An (2.224,96 ha) Xã Cửu An (3.877,3 ha) Phường An Bình (982,4 ha) Phường Tây Sơn (325,82 ha) Phường An Phú (389,99 ha) Phường An Tân (447,37 ha) b) Địa hình Địa hình An Khê chú yếu là đồi núi xen kế thung lũng bị san băng và mở rộng trên bậc thềm chuyến tiếp với cao nguyên và đồng bằng, địa hình không bằng phăng, bị chia cắt bởi nhiều sông suối và các trién núi. Phía Đông và phía Nam là vùng núi hiểm trở có độ cao từ 410m đến 900m. Phía Tây và phía Bắc tương đối bằng phẳng, có độ cao từ 400m đến 500m. Sông Ba chạy theo hướng Bắc - Nam chia đôi trung tâm thị xã.
Các tuyến suối nhánh từ các khe núi đỗ dồn về sông Ba.an _— =! mm c) Thời tiết, khí hậu Thị xã An Khê nằm ở sườn phía Đông dãy Trường Sơn trên bậc thềm chuyển tiếp giữa vùng cao nguyên và duyên hải Trung bộ nên khí hậu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu cao nguyên mang sắc thái Đông Trường Sơn, mùa mưa thường đến muộn và kết thúc muộn hơn bên sườn Tây Trường Sơn từ 1 đến 2 tháng. Một năm có 2 mùa rõ rệt, đó là: Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11, có khi kéo dài đến tháng 12 lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa thường chiếm 60-70% lượng mưa hàng năm. Lượng mưa trung bình năm 1.255mm, trong đó: Cao nhất: 1.389 - 1565mm Thấp nhất: 681-794mm Độ ẩm trung bình năm: 80 - 81,5%mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, khô nhất vào các tháng 2 và 3. Hướng gió thịnh hành vào mùa khô là Đông Bắc, mùa mưa là Tây Nam, tốc độ gió thịnh hành 3,5m/s, cao nhất có thé lên tới 20m/s.
d) Thủy văn, sông ngòi An Khê có mạng lưới sông suối tương đối nhiều, phân bố tương đối nhiều trên lãnh thổ, đặc biệt có sông Ba là con sông lớn chảy qua địa phận nhiều huyện, thị trong tỉnh. Ngoài ra, còn có rất nhiều nhánh suối là lưu vực của sông Ba. Đây là nguồn dự trữ và cung cấp nước chủ yếu cho các ngành sản xuất, dịch vụ cũng như sinh hoạt của nhân dân trong thị xã. Sông Ba là sông lớn chảy theo hướng Bắc Nam, lưu tốc dòng chảy v =1,5m/s, cường độ lũ mạnh, có giá trị về phát triển thủy điện.
Qua nghiên cứu nhiều năm của trạm thuỷ văn An Khê cho thấy mực nước dao động giữa hai mùa là 8,15m. Mức thấp nhất vào mà khô là 1,06m chênh lệch tới 7,09m. Chính vậy gây bất lợi cho việc khai thác nước dùng cho sinh hoạt. Hơn nữa khi lũ về nước sông rất đục, đời hỏi phải có dây chuyền xử lí phù hợp mới đảm bảo vệ sinh.
e) Thổ nhưỡng Trong toàn tỉnh Gia Lai có 27 loại đất được chia thành 7 nhóm chính. Ở thị xã An Khê có các nhóm đất chính sau: X4m và xám nâu hình thành trên đá Granit, Riolit, Sa thạch Đất đỏ vàng trên đá Granit, Riolit Dat đỏ vàng trên đá Granit và phiến thạch mica. Đất đốc tụ thung lũng. Đất nâu thẫm trên sản phẩm phong hoá Bazan.
Dat mòn tro sỏi đá. Dat phù sa không được bồi hàng năm. Trong số đó, giữ vai trò quan trọng nhất là đất xám và xám nâu vì nó thích hợp cho cây công nghiệp ngắn ngày (vừng, thuốc lá, sắn, đậu đỗ các loại) và một số cây công nghiệp dài ngày (điều, mía) vì đây là các loại cây chủ lực của thị xã An Khê trong nhiều năm qua. Ngoài ra đất phù sa được phân bổ chủ yếu ở ven sông suối, thích hợp cho cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc, cây thực phẩm.
) Còn lại chất lượng đất ở mức trung bình, phần lớn có tầng canh tác dày, trừ một số ít đất đồi núi do để troc quá lâu, tang đất mặt bị bào mòn sỏi đá nỗi lên mặt thích hợp cho phát triển cây nông - lâm nghệp theo hướng đa dạng sinh học với nhiều cây trồng vật nuôi phong phú. f) Tài nguyên Đất có tầng day, canh tác tốt với các loại cây công nghiệp ngắn ngày, lúa nước và cây công nghiệp dài ngày. Nước: sông Ba là sông lớn, lưu tốc dòng chảy lớn đạt khoảng 0,12m/s, có giá trị về phát triển thuỷ điện. Khoáng sản kim loại làm vật liệu xây dựng, đất làm gạch ngói.
Rừng chiếm khoảng 3. Du lịch: là vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hoá như: nơi tụ nghĩa dây binh đánh đuổi giặc Thanh của Nguyễn Huệ, đình Tây Sơn thượng đạo, hòn đá ông Bình, ông Nhạc, cao điểm 683 (thời chống Mỹ), đèo An Khê, văn hoá lễ hội của các dân tộc, khu du lịch sinh thái Đập Bến Tuyết đang được xây dựng. Tình hình xã hội a) Dân số và thành phần dân tộc Những năm trước mức tăng chung của dân số thị xã An Khê khá cao khoảng 2,59%/năm, năm 2005 tỉ lệ tăng dân số giảm xuống còn 1,99%. -: m= z_-=—nn=m a ~ prot — —=—— —=-—=- Số hộ gia đình: 13.419 hộ, bình quân mỗi hộ có 5 người.
Dân số phân theo giới tính có sự chênh lệch không đáng kể, (nữ chiếm 50,34%) Thành phần dân tộc: An Khê là thị xã có ít đân tộc nhưng thành phần dân tộc tương đối đa dạng, khoảng trên 15 dân tộc khác nhau. Thành Phần Dân Tộc của Thị Xã An Khê Dân tộc Số lượng (người) Tỉ lệ (%) Kinh 64.307 100 Nguồn tin: Niên giám TK 2006 b) Về giáo dục, văn hóa Giáo dục: Thị xã có 31 cơ sở giáo dục đào tạo với 18.395 học sinh trong đó: Mẫu giáo: có 7 trường, 65 lớp học với 1968 học sinh. Trường tiểu học: có 12 trường với 7.692 học sinh, 256 lớp học. Trường THPT: 3 trường tại thị xã, với 2.470 học sinh, 59 lớp học.
Ngoài ra có trung tâm bồi dưỡng chính trị và giáo duc thường xuyên tại thị xã, có 152 lớp học. Trong những năm qua, An Khê đã có nhiều nỗ lực trong sự nghiệp giáo dục và xây dựng con người. Kết quả là 100% số phường, xã công nhận xoá mù và phổ cập giáo dục tiểu học. Văn hoá, thể dục, thể thao: Hiện nay thị xã có một nhà văn hoá, một thư viện tại thị xã, một nhà truyền thống và một rạp chiếu bóng.
Các đi tích lịch sử văn hoá: đền Tây Sơn thượng đạo, cao điểm 683 Thị xã có một sân vận động quy mô 2,7 ha với nhiều hoạt động phong trào thể dục thé thao lành mạnh. c) Véy té Hệ thống tô chức của ngành y tế địa phương gồm 1 phòng y tế, 1 trung tâm y tế dự phòng, 1 bệnh viện.