Chương 1 giới thiệu tổng quát về lý do chọn đề tài, mụu tiêu nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu trong luận văn. Với việc phân tích 2 giai đoạn: sử dụng mô hình SFA và hồi quy Tobit để đánh giá sự tác động của các nhân tố riêng, đặc trưng của Ngân hàng và các điều kiện thị trường bên ngoài đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại. Từ đó, đề tài đưa ra các giải pháp để cải thiện và nâng cao hiệu quả chi phí của các Ngân hàng thương mại cổ phần LV Quản lý kinh tế 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ CHI PHÍ VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN.1 Hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại Theo Farrell (1957) thì vấn đề đo lường hiệu quả sản xuất của một ngành rất quan trọng đối với cảc nhà nghiên cứu kinh tế và nhà hoạch định chính sách kinh tế. Đo lường hiệu quả là một chủ đề được quan tâm vì các tổ chức luôn mong muồn cải thiện năng suất.
Vì những lý do này, sáu mươi năm trước trong bài viết kinh điển của mình Farrell nói về hiệu quả của một công ty, tức là công ty tạo ra sản lượng càng lớn càng tốt từ một đầu vào nhất định. Với điều kiện là tất cả các yếu tố đầu vào và đầu ra đều được đo lường chính xác. Tương tự, nếu kế hoạch kinh tế liên quan đến các ngành cụ thể, điều quan trọng là phải biết một ngành công nghiệp nhất định có thể được tăng cường để tăng sản lượng của mình bằng cách đơn giản là tăng hiệu quả mà không cần hấp thụ thêm tài nguyên. LV Quản lý kinh tế Theo Berger et al (1993) đo lường hiệu quả của các ngân hàng là một trong những vấn đề quan trọng nhất trên thị trường tài chính, vì hiệu quả của chúng có thể ảnh hưởng đến sự ổn định của ngành ngân hàng và hiệu quả của cả một hệ thống tiền tệ.
Đối với các ngân hàng, hiệu quả là cải thiện lợi nhuận, số tiền lớn hơn được chuyển qua hệ thống, giá cả và chất lượng dịch vụ tốt hơn cho khách hàng và an toàn hơn về mặt đệm vốn được cải thiện trong việc hấp thụ rủi ro Đánh giá năng suất của hệ thống ngân hàng là mối quan tâm lớn đối với các cơ quan chính phủ vì sự tăng năng suất của các ngân hàng có thể dẫn đến hiệu quả ngân hàng tốt hơn, giảm chi phí và cải thiện chất lượng dịch vụ cũng như cải thiện việc phân bổ nguồn lực và tăng năng suất của toàn bộ nền kinh tế. Sự gia tăng năng suất cũng góp phần làm tăng tính lành mạnh và ổn định của hệ thống ngân hàng, với điều kiện lợi nhuận đạt được hướng tới việc tăng vốn chủ sở hữu và các điều khoản cho phép hấp thụ rủi ro tốt hơn (Casu et al, 2004). 6 Theo Berger và Mester (1997) có ba khái niệm hiệu quả kinh tế quan trọng : chi phí, lợi nhuận tiêu chuẩn và hiệu quả lợi nhuận khác. Những khái niệm này có nền tảng kinh tế tốt nhất để phân tích hiệu quả của các tổ chức tài chính bởi vì chúng dựa trên sự tối ưu hóa kinh tế để phản ứng với giá cả thị trường và cạnh tranh, thay vì chỉ dựa vào việc sử dụng công nghệ.
Hiệu quả chi phí đưa ra thước đo mức độ chi phí của ngân hàng gần với chi phí của ngân hàng tốt nhất sẽ như thế nào khi sản xuất cùng một gói đầu ra trong cùng điều kiện. Ví dụ: chỉ số hiệu quả X theo chi phí của ngân hàng I là 0,7 cho thấy rằng ngân hàng I đạt hiệu quả 70% và thấp hơn 30% so với ngân hàng chuẩn xét trong cùng một điều kiện nhất định. Hiệu quả X có giá trị trong đoạn (0,1] và bằng 1 đối với ngân hàng đạt hiệu quả cao nhất. Theo Ariff và Can (2008) thì hiệu quả chi phí liên quan đến việc giảm thiểu chi phí của một công ty được phản ánh bởi mức độ chi phí của nó gần với mức mà một LV Quản lý kinh tế công ty thực hiện tốt nhất sẽ tạo ra cùng một lượng đầu ra được bán ở mức giá nhất định với giá đầu vào nhất định.
Cũng theo Farell (1957) có 2 loại hiệu quả là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Hiệu quả kỹ thuật là tối đa hóa đầu ra ( sản xuất ra sản lượng tối đa ) với đầu vào cho trước ( như lao động, máy móc, nhà xưởng, phát minh, công nghệ… ) hoặc tối thiểu hóa đầu vào đế sản xuất một lượng đầu ra nhất định. Mặt khác, hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng của một công ty sử dụng các yếu tố đầu vào theo tỷ lệ tối ưu khi giá cả tương ứng của chúng đã biết và công nghệ sản xuất của công ty. Hai loại hiệu quả này sau đó được kết hợp thành một hiệu quả kinh tế tổng thể (CE).
Giống như các mô hình sản xuất truyền thống, các ngân hàng sử dụng vốn và lao động làm đầu vào để sản xuất đầu ra như cho vay và cung cấp dịch vụ. Các ngân hàng thu tiền bằng cách sử dụng lao động và vốn (đầu vào) và kiếm lợi nhuận từ khối lượng tài sản kiếm được (đầu ra). Vì vây, luận văn đánh giá hiệu quả chi phí của các 7 ngân hàng dựa trên việc kết hợp các yếu tố đầu vào như lao động, tiền gửi, vốn, công nghệ…) và đầu ra ( tổng tài sản,…) để có mức hiệu quả chi phí tối ưu.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng thương mại Hiệu quả chi phí là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của các công ty nói chung và ngân hàng nói riêng. Để nâng cao hiệu quả, các NHTM cần cải thiện năng lực quản trị và điều hành, tạo đào nhân sự, đầu tư công nghệ… qua đó tạo ra giá trị tích lũy, nâng cao giá tri thương hiệu và phát triễn quy mô.
Để thực hiện mục tiêu trên, các ngân hàng cần nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Theo Anwar (2018) thì có hai nhóm nhân tố tác động đến hiệu quả chi phí của các ngân hàng bao gồm: nhân tố bên ngoài và bên trong ngân hàng. Các nhân tố bên ngoài ngân hàng như là: tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng GDP, chỉ số LV Quản lý kinh tế VNIndex, tỷ giá. Nhóm nhân tố bên trong ngân hàng bao gồm các yếu tố như quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ suất sinh lợi trên tài sản, tỷ lệ tiền gửi cho vay, nợ xấu của ngân hàng 2.1 Các nhân tố nhân tố bên ngoài Nhân tố bên ngoài là các nhân tố có ảnh hưởng đến nền kinh tế, xã hội.
Khi nền kinh tế phát triễn các doanh nghiệp sẽ có nhu cầu về vốn để đầu tư, mở rộng hoạt động sản suất. Để đáp ứng nhu cầu tăng cao về vốn của thị trường các ngân hàng sẽ có cơ hội tăng trưởng tín dụng từ đó tạo ra thu nhập. Ngược lại, nếu nên kinh tế không phát triễn sẽ tạo ra các nguy cơ về việc gia tăng nợ xấu, chi phí sử dụng vốn tăng, giảm doanh thu do giảm nhu cầu về vốn của thị trường. Các nhân tố ảnh hưởng đến đến nền kính tế bao gồm: lạm phát, tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ giá hối đoái,… Hoạt động của các ngân hàng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố bên ngoài.
Tác động của chúng mang tính chất khách quan và khó kiểm soát được. Khi những nhân tố bên 8 ngoài thay đổi sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động của ngân hàng thương mại. Để tồn tại các ngân hàng thương mại buộc phải thích nghi với sự thay đổi. Vấn đề của ngân hàng là nhận biết kịp thời, để có thể thích nghi với chúng.
Chan và Karim (2010) cho rằng GDP bình quân đầu người, tín dụng cho khu vực tư nhân và sự tập trung thị trường có tác động tiêu cực đến hiệu quả chi phí ngân hàng Andries (2011) đề xuất các cơ quan chính phủ nên hỗ trợ tự do hóa và cải cách ngân hàng và thực hiện một số nỗ lực để duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức thấp để cải thiện hiệu quả của các ngân hàng 2.2 Các nhân tố nhân tố bên trong Các nhân tố bên trong cấu thành nên một ngân hàng bao gồm: quy mô tài sản, LV Quản lý kinh tế công nghệ, nguồn nhân lực, chiến lược marketing, hệ thống phòng ngừa rủi ro, năng lực tài chính, tỷ lệ nợ xấu. Tất cả các nhân tố trên đều có ảnh hưởng, tác động tích cực hay tiêu cực đến hiệu quả chi phí của NHTM. Khả năng ứng dụng công nghệ Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và ứng dụng công nghệ vào tất cả các mặt của nền kinh tế và xã hội như ngày nay, đã tạo ra những thách thức cũng như cơ hội cho các ngân hàng. Việc ứng dụng công nghệ của ngành ngân hàng là một xu thế tất yếu để gia tăng hiệu quả và phát triễn.
Năng lực công nghệ của mỗi ngân hàng bao gồm: hạ tầng công nghệ ngân hàng, nguồn vốn được sử dụng tối ưu để đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống thông tin, nâng cao kỹ thuật công nghệ của ngân hàng. Các ngân hàng ứng dụng tốt công nghệ sẽ giảm thiểu chi phí nhân sự, xây dựng có sở dữ liệu lớn (big data) giúp cho ngân hàng chiếm lĩnh thị phần. 9 Suhaemi, Abdullah và Saban (2010) chứng minh rằng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông có tác động tích cực đến hiệu quả lợi nhuận mặc dù hiệu quả không đáng kể, trong khi quy mô có mối liên hệ tiêu cực với hiệu quả lợi nhuận Quy mô ngân hàng Quy mô ngân hàng thể hiện tổng tài sản của các Ngân hàng thương mại, trong nền kinh tế các Ngân hàng thương mại có quy mô khác nhau. Theo Suhaemi, Abdullah và Saban (2010) quy mô có mối liên hệ tiêu cực với hiệu quả lợi nhuận, trong khi đó theo Yeh (2011) thì quy mô ngân hàng có tác động lớn đến hiệu quả ngân hàng, các ngân hàng có quy mô lớn có hiệu quả hơn.
Nguồn nhân lực Trong cơ cấu chi phí hoạt động của ngân hàng, thì chi phí nhân sự chiếm tỷ LV Quản lý kinh tế trọng lớn. Tuy nhiên, con người luôn là yếu tố quan trọng đối với bất cứ tổ chức nào.