Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam đóng góp khoảng 20% GDP quốc gia với hơn 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong đó, chăn nuôi là ngành kinh tế có hiệu quả cao và phát triển nhanh chóng về số lượng cũng như quy mô đàn. Tuy nhiên, sự gia tăng quy mô đàn gia súc, gia cầm kéo theo lượng chất thải lớn, gây sức ép nghiêm trọng lên môi trường sống.
Tại tỉnh Bắc Ninh nói chung và xã Dũng Liệt (huyện Yên Phong) nói riêng, hoạt động chăn nuôi chủ yếu tồn tại ở quy mô hộ gia đình, mang tính tự phát, nhỏ lẻ và thiếu quy hoạch đồng bộ. Mức độ nhiễm khuẩn trong chuồng nuôi cao gấp nhiều lần so với môi trường bên ngoài, làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, gia tăng tỷ lệ mắc bệnh, phát sinh chi phí thú y và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng. Phần lớn các trang trại và hộ gia đình chưa có quy trình xử lý chất thải bài bản hoặc xả thải trực tiếp ra môi trường. Trước yêu cầu về xây dựng nông thôn mới và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, việc ứng dụng các chế phẩm sinh học – cụ thể là chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu E.M2 làm đệm lót sinh thái – là giải pháp kỹ thuật có chi phí thấp, nguyên liệu sẵn có, dễ vận hành và giảm thiểu ô nhiễm tại nguồn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài xác định hệ thống mục tiêu theo văn bản:
- Mục tiêu chung:
- Xác định khả năng ứng dụng chế phẩm sinh học hữu hiệu E.M2 trong xử lý chất thải chăn nuôi gà.
- Thúc đẩy việc ứng dụng rộng rãi chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu trong chăn nuôi và kiểm soát ô nhiễm môi trường.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tiến hành điều tra, thu thập số liệu và thông tin về tình hình sản xuất chăn nuôi tại địa phương.
- Triển khai mô hình đệm lót sinh học ứng dụng chế phẩm E.M2 để xử lý chất thải chăn nuôi gà.
- Đánh giá hiệu quả xử lý của chế phẩm thông qua việc bố trí và theo dõi các mô hình thí nghiệm thực tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình, trang trại chăn nuôi gà trên địa bàn xã Dũng Liệt; quy trình và hiệu quả làm đệm lót sinh thái bằng chế phẩm E.M2 trong việc xử lý chất thải phân gà.
- Phạm vi không gian: Xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ ngày 03/02/2015 đến ngày 11/05/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở khoa học và pháp lý
1. Khung lý thuyết và khái niệm
- Chất thải chăn nuôi: Gồm phân, nước tiểu, khí độc và chất độn chuồng phát sinh từ các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trung bình một con gà trưởng thành thải ra khoảng 115 g phân và nước tiểu mỗi ngày đêm, trong đó nước chiếm khoảng 3/4 (86,25 g).
- Công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (EM - Effective Microorganisms): Do Giáo sư - Tiến sĩ Teruo Higa (Đại học Ryukyus, Okinawa, Nhật Bản) phát triển từ năm 1980 (nghiên cứu từ 1970). Chế phẩm chứa từ 80 đến 120 loài vi sinh vật kỵ khí và hiếu khí thuộc 5 nhóm chính:
- Vi khuẩn Lactic: Lên men kỵ khí, tạo acid lactic làm giảm pH, khử trùng mạnh, phân cắt cellulose và ức chế nấm bệnh (Fusarium).
- Vi khuẩn quang hợp: Đóng vai trò chủ đạo, tổng hợp acid amin, hormone tăng trưởng và tạo nguồn dinh dưỡng tương hỗ cho các nhóm vi sinh vật khác.
- Xạ khuẩn: Phân giải các hợp chất hữu cơ khó tiêu (cellulose, tinh bột) và sinh kháng sinh tự nhiên tiêu diệt mầm bệnh.
- Nấm men: Đơn bào, sản xuất enzyme, vitamin và acid amin không thay thế, hỗ trợ phân giải chất hữu cơ.
- Vi khuẩn Bacillus: Sản sinh enzyme protease và amylase, cạnh tranh sinh học và phân giải protein thừa.
- Chế phẩm E.M2: Dung dịch thứ cấp được điều chế từ quá trình lên men kỵ khí chế phẩm E.M gốc (hoặc EMINA - chế phẩm EM Việt Nam do Viện Sinh học Nông nghiệp sản xuất) kết hợp mật rỉ đường và nước sạch, dùng để phun tạo đệm lót và khử mùi chuồng trại.
- Đệm lót sinh thái: Hỗn hợp cơ chất (trấu, mùn cưa không độc tố) kết hợp chế phẩm E.M2 và rỉ đường, giúp giữ ấm cho vật nuôi, hút ẩm, phân giải phân và nước tiểu tại chỗ, khống chế vi khuẩn gây bệnh và ngăn chặn sinh khí độc ($H_2S, NH_3, SO_2, CH_4$). Độ ẩm tối ưu của lớp đệm lót được xác định từ 25% đến 30%.
EM Gốc (hoặc EMINA) + Rỉ đường + Nước sạch
2. Cơ sở pháp lý
Đề tài căn cứ trên các văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật:
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 (hiệu lực từ 01/01/2015).
- Nghị định 18/2015/NĐ-CP và Nghị định 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ.
- Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Thông tư số 04/2010/TT-BNNPTNT ban hành QCVN 01-15:2010/BNN&PTNT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện trang trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học).
- Thông tư số 71/2011/TT-BNNPTNT và các Quy chuẩn: QCVN 01-39:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-79:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-80:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-81:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-82:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-83:2011/BNN&PTNT, QCVN 01-100:2012/BNN&PTNT.
- Quyết định số 1504/QĐ-BNN&PTNT ban hành quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho gia cầm an toàn.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
| Phương pháp |
Quy trình và kỹ thuật thực hiện |
Nguồn dữ liệu / Tiêu chuẩn áp dụng |
| Thu thập dữ liệu thứ cấp |
Thu thập báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, địa giới hành chính, số liệu khí tượng thủy văn, số lượng trang trại và tình hình dịch bệnh. |
UBND xã Dũng Liệt, phòng Thống kê, tài liệu khí tượng Yên Phong, các công trình nghiên cứu về EM trong và ngoài nước. |
| Pha chế và nhân sinh khối E.M2 |
Công thức: $100\text{ ml EM gốc} + 100\text{ ml rỉ đường (hoặc } 100\text{ mg đường đỏ)} + 1800\text{ ml nước sạch} = 2000\text{ ml E.M2}$. Ủ kỵ khí trong can tối màu ở nhiệt độ phòng 5–7 ngày (mùa đông) hoặc 4–5 ngày (mùa hè). Tiêu chuẩn đạt: $\text{pH } 3,5 - 4,5$, màu vàng cánh gián, mùi thơm chua ngọt. |
Quy trình kỹ thuật vi sinh của Viện Sinh học Nông nghiệp và tài liệu hướng dẫn công nghệ EM. |
| Xây dựng đệm lót sinh thái |
Áp dụng cho diện tích $30 - 50\text{ m}^2$: Rải trấu dày $10\text{ cm}$; phun hỗn hợp ($2\text{ kg rỉ đường} + 5\text{ lít E.M2} + 30-40\text{ lít nước}$) đạt ẩm độ $30 - 35%$; gom đống phủ bạt ủ 5–7 ngày (mùa đông) hoặc 3–4 ngày (mùa hè); sau đó san phẳng thả gà. Định kỳ 2–5 ngày cào xới mặt đệm (cách nền $2\text{ cm}$), bảo dưỡng bổ sung men sau khoảng 20 ngày. |
Thực nghiệm trực tiếp tại 3 mô hình ban đầu (thôn Lạc Trung) và 3 mô hình mở rộng. |
| Lấy mẫu và phân tích thí nghiệm |
Lấy mẫu hỗn hợp: Thu 9 mẫu tại 3 mô hình theo phương pháp đường chéo ($200\text{ g/điểm}$). Băm nhỏ, trộn đều, chia làm 4 phần đối diện lấy mẫu đại diện $200\text{ g}$ phân tích trước và sau xử lý. |
- Độ ẩm: TCVN 4326:2007 - Nitơ tổng ($T\text{-}N$): TCVN 4328:2007 - Photpho tổng ($T\text{-}P$): TCVN 1525:2011 - Kali tổng ($T\text{-}K$): TCVN 8660:2011 - E. coli: Phương pháp Quinn P.J et al. - Coliform: TCVN 4882:2007 |
| Điều tra xã hội học |
Phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu điều tra ngẫu nhiên sau 3 tháng triển khai mô hình. |
Cỡ mẫu $n = 60$ người dân chăn nuôi gà và chủ hộ tham gia mô hình trên địa bàn xã. |
| Xử lý số liệu |
Phân loại, tổng hợp bảng biểu, thống kê mô tả và so sánh đối chứng trước - sau. |
Phần mềm Microsoft Excel 2010. |
Nội dung chính theo từng chương
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương này phân tích bối cảnh phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, nêu bật sự gia tăng quy mô đàn gia cầm tại Bắc Ninh và những xung đột môi trường do chăn nuôi nhỏ lẻ gây ra. Tác giả xác định rõ mục tiêu nghiên cứu (đánh giá hiệu quả xử lý chất thải gà bằng E.M2, giảm thiểu ô nhiễm không khí và mầm bệnh), xác định các yêu cầu kỹ thuật, tính khách quan của số liệu và chỉ ra ý nghĩa thực tiễn của đề tài trong việc cải thiện môi trường nông thôn, tạo nguồn phân bón hữu cơ tại chỗ.
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trình bày hệ thống lý luận về chất thải chăn nuôi và công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (EM). Nội dung phân tích chi tiết cơ chế tác động tương hỗ giữa 5 nhóm vi sinh vật chính trong EM; 3 nguyên lý khoa học nền tảng của công nghệ EM do Teruo Higa xây dựng; phân biệt tính ưu việt của EM (hỗn hợp đa chủng cộng sinh) so với các chế phẩm đơn dòng. Chương này cũng tổng kết lịch sử ứng dụng EM trên thế giới (với hơn 180 quốc gia tiếp cận, số liệu sản xuất của APNAN năm 2007) và tại Việt Nam từ thập niên 1990 thông qua các chương trình thử nghiệm của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nghiên cứu tạo ra chế phẩm EMINA. Đồng thời, chương 2 phân tích cơ sở thực tiễn của việc sử dụng chất độn chuồng và đệm lót sinh thái kết hợp E.M2.
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Xác định không gian nghiên cứu tại xã Dũng Liệt, thời gian nghiên cứu từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2015. Thiết lập 3 nội dung nghiên cứu trọng tâm:
- Xây dựng mô hình đệm lót sinh học E.M2 (chi tiết hóa từng bước nhân chế phẩm E.M2, kỹ thuật rải trấu, phối trộn rỉ đường, ủ bạt và kỹ thuật bảo dưỡng đệm lót).
- Quy trình lấy mẫu hỗn hợp đại diện và phương pháp phân tích 6 chỉ tiêu vật lý, hóa học, sinh học theo hệ thống TCVN.
- Phương pháp khảo sát xã hội học trên 60 hộ chăn nuôi và phương pháp xử lý số liệu bằng Microsoft Excel 2010.
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trình bày các phát hiện thực nghiệm và số liệu điều tra:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Dũng Liệt: Tổng diện tích tự nhiên $826\text{ ha}$, dân số 2.065 hộ với 8.996 nhân khẩu (100% dân tộc Kinh), gồm 5 thôn: Lạc Trung, Chân Lạc, Phụ Yên, Phụ Gầm, Lương Gầm. Cơ cấu kinh tế năm 2014 gồm nông - thủy sản ($79,2%$), tiểu thủ công nghiệp ($16,5%$), thương mại - dịch vụ ($4,3%$). Toàn xã có 28 trang trại gà quy mô từ 2.000 đến 4.000 con/trại.
- Thực trạng xử lý chất thải: Chăn nuôi lợn chủ yếu dùng Biogas (còn hạn chế về chi phí, tốn nước và khó thu cặn). Chăn nuôi gà chưa có quy trình thu gom thống nhất (trại gà thịt thu gom ~30 ngày/lần, gà đẻ 15–20 ngày/lần), việc sử dụng phân tươi bón cây gây ô nhiễm và phát tán dịch bệnh.
- Kết quả triển khai mô hình: Thử nghiệm thành công tại 3 mô hình ban đầu thuộc thôn Lạc Trung (hộ chú Ngô Đức Cường: chuồng 1 diện tích $80\text{ m}^2$ nuôi úm gà đẻ, chuồng 2 diện tích $50\text{ m}^2$ nuôi gà đẻ hậu bị; hộ chú Dương Thọ Quảng: chuồng diện tích $100\text{ m}^2$ nuôi úm gà đẻ). Đồng thời mở rộng thêm tại hộ ông Nguyễn Công Bẩy ($80\text{ m}^2$), ông Ngô Khánh Phong ($135\text{ m}^2$) và ông Dương Thọ Ngạn ($100\text{ m}^2$).
- Hiệu quả lý - hóa - sinh: Màu sắc phân sáng hơn, mùi hắc và mùi hôi thối trong chuồng giảm rõ rệt nhờ hoạt động phân giải kỵ khí/hiếu khí của hệ men vi sinh. Độ ẩm của phân gà giảm mạnh từ $44,72%$ (trước xử lý) xuống còn $30,30%$ (sau xử lý), tương đương mức giảm $14,42%$, giúp duy trì nền chuồng khô ráo và hạn chế phát sinh bệnh đường hô hấp.
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tổng hợp 4 kết luận chính về hiện trạng chăn nuôi gà tại xã Dũng Liệt, mức độ tác động môi trường của chất thải gia cầm, thực trạng xử lý phân gà của người dân và khẳng định hiệu quả kỹ thuật - môi trường của chế phẩm E.M2. Đưa ra các đề xuất về việc nhân rộng mô hình đệm lót sinh học tại địa phương.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực nghiệm chính
1. Quy mô triển khai các mô hình đệm lót sinh thái E.M2
| Mô hình |
Chủ hộ thực hiện |
Địa điểm (Thôn) |
Diện tích nền chuồng |
Giai đoạn / Đối tượng nuôi |
| Mô hình 1 |
Chú Ngô Đức Cường |
Lạc Trung |
$80\text{ m}^2$ |
Gà nuôi đẻ trứng (giai đoạn úm gà con) |
| Mô hình 2 |
Chú Ngô Đức Cường |
Lạc Trung |
$50\text{ m}^2$ |
Gà nuôi đẻ trứng (giai đoạn gà hậu bị) |
| Mô hình 3 |
Chú Dương Thọ Quảng |
Lạc Trung |
$100\text{ m}^2$ |
Gà nuôi đẻ trứng (giai đoạn úm gà con) |
| Mở rộng 1 |
Ông Nguyễn Công Bẩy |
Dũng Liệt |
$80\text{ m}^2$ |
Nuôi gà thịt / gà đẻ |
| Mở rộng 2 |
Ông Ngô Khánh Phong |
Dũng Liệt |
$135\text{ m}^2$ |
Nuôi gà thịt / gà đẻ |
| Mở rộng 3 |
Ông Dương Thọ Ngạn |
Dũng Liệt |
$100\text{ m}^2$ |
Nuôi gà thịt / gà đẻ |
2. Biến đổi độ ẩm chất độn chuồng và phân gà
| Chỉ tiêu phân tích |
Trước khi xử lý (%) |
Sau khi xử lý bằng E.M2 (%) |
Chênh lệch giảm (%) |
| Độ ẩm trung bình của phân gà |
$44,72%$ |
$30,30%$ |
Giảm $14,42%$ |
(Ghi chú: Số liệu theo kết quả phân tích mẫu phân tại các mô hình thí nghiệm; biểu đồ hình 4.2 và văn bản chương 4).
Biến đổi độ ẩm phân gà trước và sau xử lý bằng E.M2:
Trang thái ban đầu (Trước xử lý) : [████████████████████████] 44,72%
Sau xử lý đệm lót E.M2 : [████████████████] 30,30% (-14,42%)
Giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật của tác giả
- Kỹ thuật bảo dưỡng đệm lót: Định kỳ từ 2 đến 5 ngày phải cào xới bề mặt chất độn chuồng một lần để duy trì độ tơi xốp, hỗ trợ vi sinh vật hiếu khí hoạt động và tăng tốc độ phân hủy phân (khi cào tránh xới sâu sát nền, cách nền khoảng $2\text{ cm}$).
- Xử lý mùi phát sinh: Nếu phát hiện đệm lót có mùi khí $NH_3$ hoặc mùi thối nhẹ (do đệm bị ướt hoặc nén chặt), cần làm khô, xới tơi và bổ sung ngay chế phẩm men ủ.
- Định kỳ bổ sung men: Sau khoảng 20 ngày, tiến hành bảo dưỡng bằng cách rắc men ủ đều lên bề mặt với tỷ lệ $50%/\text{m}^2$ nền chuồng (thực hiện vào buổi chiều mát đối với những ngày nắng nóng).
- Chăm sóc và phối hợp dinh dưỡng: Kiểm tra khu vực máng uống, thay trấu mới nếu bị nước rớt làm ướt; điều chỉnh chụp sưởi úm gà treo cao hơn vào mùa nóng để tránh đệm lót tích nhiệt làm gà bị nóng; bổ sung men tiêu hóa vào thức ăn hoặc nước uống để tăng khả năng tiêu hóa và giảm lượng nước trong phân thải.
Đóng góp của đề tài
- Khẳng định tính khả thi của việc ứng dụng chế phẩm E.M2 sản xuất từ nguồn EM gốc/EMINA để làm đệm lót sinh thái trong điều kiện chăn nuôi thực tế tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
- Cung cấp quy trình công nghệ chi tiết từ khâu ủ nhân sinh khối E.M2, định lượng cơ chất trấu/mùn cưa, đến chế độ vận hành và bảo dưỡng đệm lót, giúp người nông dân dễ dàng tự thực hiện với chi phí thấp.
- Làm giảm thiểu ô nhiễm mùi hôi, khí độc và độ ẩm chuồng nuôi, tạo tiền đề tạo ra nguồn phân bón hữu cơ an toàn cho sản xuất trồng trọt tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Thời gian thực hiện đề tài ngắn (từ tháng 02/2015 đến tháng 05/2015), chưa theo dõi được trọn vẹn toàn bộ các chu kỳ nuôi qua đầy đủ các mùa khí hậu trong năm (đặc biệt là giai đoạn chuyển tiếp mùa hè - mùa thu).
- Nguồn lực và kinh phí phân tích chuyên sâu còn hạn chế; số lượng mẫu phân tích tập trung chủ yếu ở 3 mô hình điểm; phạm vi điều tra xã hội học dừng lại ở quy mô mẫu $n = 60$.
- Quy mô chăn nuôi của các hộ dân trong vùng còn phân tán, kết cấu chuồng trại hở gây khó khăn nhất định cho việc kiểm soát nhiệt - ẩm tuyệt đối của đệm lót trong những ngày mưa bão kéo dài.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục theo dõi độ bền sinh học và khả năng phân giải của lớp đệm lót E.M2 trong thời gian kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm trên các đàn gà có mật độ nuôi khác nhau.
- Mở rộng đánh giá các chỉ tiêu hóa sinh của phân sau khi thu hồi từ đệm lót (hàm lượng $N, P, K$ hữu dụng) khi đem bón thử nghiệm cho các loại cây trồng chủ lực của địa phương (lúa, cây ăn quả, rau màu).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông học, Chăn nuôi - Thú y; cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, khuyến nông viên cấp cơ sở và các chủ trang trại chăn nuôi gia cầm.
- Hạng mục nội dung giá trị:
- Quy trình kỹ thuật pha chế và kiểm soát chất lượng chế phẩm thứ cấp E.M2 từ EM gốc (tỷ lệ phối trộn, thông số pH, cảm quan màu sắc, mùi vị).
- Quy trình thi công đệm lót sinh thái bằng vật liệu trấu kết hợp E.M2 cho chuồng nuôi gà úm và gà hậu bị.
- Hệ thống phương pháp và tiêu chuẩn TCVN áp dụng trong quan trắc, lấy mẫu và kiểm nghiệm các thông số vật lý, hóa học, vi sinh vật của chất thải chăn nuôi gia cầm.
Câu hỏi thường gặp
1. Công thức và tiêu chuẩn kỹ thuật để nhân sinh khối chế phẩm E.M2 từ EM gốc là gì?
Theo quy trình trong khóa luận, công thức pha chế gồm: $100\text{ ml EM gốc} + 100\text{ ml rỉ đường (hoặc } 100\text{ mg đường đỏ)} + 1800\text{ ml nước sạch}$ để tạo ra $2000\text{ ml E.M2}$. Hỗn hợp được ủ kỵ khí trong can tối màu ở nhiệt độ phòng trong thời gian 5–7 ngày (mùa đông) hoặc 4–5 ngày (mùa hè). Sản phẩm đạt yêu cầu khi có độ pH từ $3,5$ đến $4,5$, dung dịch có màu vàng cánh gián, mùi thơm và vị chua ngọt.
2. Độ ẩm của phân gà thay đổi như thế nào sau khi sử dụng đệm lót E.M2?
Kết quả phân tích trong nghiên cứu cho thấy: Trước khi xử lý, độ ẩm của phân gà ở mức $44,72%$. Sau khi sử dụng chế phẩm E.M2 làm đệm lót sinh học, độ ẩm giảm xuống còn $30,30%$. Độ ẩm giảm được $14,42%$, đưa nền chuồng về trạng thái khô ráo phù hợp (ngưỡng tối ưu 25–30%), ngăn ngừa đóng bánh và ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh.
3. Quy mô bố trí các mô hình thí nghiệm ban đầu tại xã Dũng Liệt được thực hiện như thế nào?
Nghiên cứu bố trí 3 mô hình thí nghiệm điểm tại thôn Lạc Trung, xã Dũng Liệt:
- Mô hình 1: Chuồng nuôi thứ nhất của hộ chú Ngô Đức Cường, diện tích $80\text{ m}^2$, áp dụng cho gà nuôi đẻ trứng giai đoạn úm gà con.
- Mô hình 2: Chuồng nuôi thứ hai của hộ chú Ngô Đức Cường, diện tích $50\text{ m}^2$, áp dụng cho gà nuôi đẻ trứng giai đoạn gà hậu bị.
- Mô hình 3: Trang trại hộ chú Dương Thọ Quảng, diện tích $100\text{ m}^2$, áp dụng cho gà nuôi đẻ trứng giai đoạn úm gà con.
4. Tại sao cần duy trì cào xới đệm lót định kỳ và kỹ thuật thực hiện ra sao?
Cứ sau 2–5 ngày cần cào xới bề mặt đệm lót một lần để giữ cho đệm lót luôn tơi xốp, giúp phân được trộn đều, tăng cường tiếp xúc giữa vi sinh vật trong E.M2 với chất thải để thúc đẩy quá trình phân giải kỵ khí/hiếu khí và bay hơi ẩm. Khi cào xới, người nuôi chỉ thao tác trên bề mặt và cách mặt sàn chuồng khoảng $2\text{ cm}$, không cào sâu sát nền chuồng.
5. Những nhóm vi sinh vật nào có mặt trong chế phẩm EM và cơ chế khử mùi hôi chuồng nuôi là gì?
Chế phẩm EM chứa từ 80–120 loài vi sinh vật thuộc 5 nhóm chính: vi khuẩn Lactic, vi khuẩn quang hợp, xạ khuẩn, nấm men và vi khuẩn Bacillus. Cơ chế khử mùi dựa trên việc các vi sinh vật hữu hiệu phân hủy nhanh các hợp chất hữu cơ (protein, tinh bột, cellulose) trong phân và nước tiểu, đồng thời ức chế, tiêu diệt các vi khuẩn gây thối và nấm mốc sinh khí độc như $H_2S, SO_2, NH_3, CH_4$.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ngô Bá Ngân đã hệ thống hóa cơ sở khoa học của công nghệ vi sinh vật hữu hiệu và đánh giá thực nghiệm việc ứng dụng chế phẩm E.M2 làm đệm lót sinh thái xử lý chất thải chăn nuôi gà tại xã Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Kết quả nghiên cứu chứng minh mô hình đệm lót E.M2 giúp giảm $14,42%$ độ ẩm phân gà, giảm thiểu rõ rệt mùi hôi thối và cải thiện môi trường chuồng nuôi trên các diện tích thử nghiệm từ $50\text{ m}^2$ đến $135\text{ m}^2$. Đây là giải pháp kỹ thuật sinh học an toàn, chi phí thấp, phù hợp với điều kiện kinh tế hộ và trang trại quy mô vừa và nhỏ tại địa phương.