Đánh Giá Hiện Trạng Xóa Đói Giảm Nghèo Tại Xã Mỹ Hưng, Huyện Thanh Phú, Tỉnh Bến Tre

Khóa luận đánh giá hiện trạng xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, góp phần phát triển nông thôn bền vững.

Trường đại học

Trường Đại Học Bến Tre

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo

2023

61
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

NỘI DUNG TÓM TẮT

1. CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU

1.1. Giới thiệu chung

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Thời gian thực hiện đề tài

1.6. Cấu trúc đề tài

2. CHƯƠNG II: TỔNG QUAN

2.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1. Vị trí địa lý

2.1.2. Địa điểm địa hình địa chất

2.1.3. Điều kiện khí hậu thời tiết

2.2. Điều kiện kinh tế xã hội

2.2.1. Vấn đề kinh tế

2.2.1.1. Tình hình sử dụng đất đai
2.2.1.2. Tình hình sản xuất
2.2.1.3. Chăn nuôi
2.2.1.4. Nuôi trồng thuỷ sản
2.2.1.5. Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

2.2.2. Văn hoá xã hội

2.2.2.1. Giáo dục đào tạo
2.2.2.2. Y tế

2.2.3. Chương trình xây dựng giảm nghèo

2.2.4. Nhận xét chung

3. CHƯƠNG III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Cơ sở lý luận

3.2. Khái niệm về nghèo đói

3.2.1. Định nghĩa về nghèo đói

3.2.2. Nghèo đói ở Việt Nam

3.2.3. Ngưỡng đánh giá nghèo đói

4. CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Khái quát tình hình chung đời sống của người 60 hộ điều tra

4.1.1. Số nhân khẩu và lao động

4.2. Tình hình áp dụng kế hoạch hoá gia đình

4.3. Trình độ học vấn

4.4. Tình hình nhà ở và tiện nghi sinh hoạt

4.5. Tình hình nghèo đói của các hộ điều tra

5. CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Phân Tích Bức Tranh Toàn Cảnh Giảm Nghèo Tại Xã Mỹ Hưng

Xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, là một địa phương mang đặc thù kinh tế nông nghiệp của tỉnh Bến Tre, nơi công tác xóa đói giảm nghèo luôn là nhiệm vụ trọng tâm. Đánh giá toàn diện về hiện trạng này đòi hỏi việc xem xét các điều kiện kinh tế - xã hội, đặc điểm dân cư và các số liệu thống kê cụ thể. Nghiên cứu của Huỳnh Công Tạo (2007) cung cấp một nền tảng dữ liệu quan trọng, khảo sát trực tiếp 60 hộ gia đình để làm rõ bức tranh đời sống người dân Mỹ Hưng. Kết quả cho thấy, dù có những nỗ lực từ chính quyền, tỷ lệ hộ nghèo vẫn là một thách thức lớn, phản ánh sự cần thiết của các chiến lược can thiệp sâu rộng và bền vững hơn.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên

Mỹ Hưng là một xã ven biển, có địa hình bằng phẳng, thuận lợi cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt là sự ảnh hưởng của khí hậu gió mùa và tình trạng xâm nhập mặn. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với các hoạt động chính là trồng lúa, chăn nuôi và nuôi thủy sản. Luận văn gốc chỉ ra rằng quá trình phát triển kinh tế - xã hội Thanh Phú tại xã còn chậm, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ. Dân cư đông nhưng đất canh tác bình quân đầu người thấp (0,13ha/người) tạo ra áp lực lớn về sinh kế. Hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn hạn chế, chưa đủ sức tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp để chuyển dịch cơ cấu lao động, góp phần vào giảm nghèo bền vững.

1.2. Thống kê tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo qua các năm

Số liệu từ UBND xã Mỹ Hưng cho thấy sự biến động trong tỷ lệ hộ nghèo Bến Tre tại địa phương. Năm 2005, xã có 207 hộ nghèo và hộ cận nghèo, chiếm 11,53%. Tuy nhiên, sau khi áp dụng chuẩn nghèo mới, con số này tăng vọt lên 533 hộ (23,68%) vào năm 2006 và 496 hộ (27,63%) vào năm 2007. Sự gia tăng này không hoàn toàn phản ánh tình hình đói nghèo tồi tệ đi, mà chủ yếu do việc thay đổi tiêu chí đánh giá, cho thấy một cái nhìn thực tế và sâu sắc hơn về mức độ khó khăn của người dân. Dữ liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cập nhật và áp dụng các tiêu chuẩn phù hợp trong chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo để xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ.

II. Top 4 Nguyên Nhân Sâu Xa Cản Trở Công Tác Giảm Nghèo

Để xây dựng giải pháp hiệu quả, việc xác định đúng nguyên nhân cốt lõi gây ra đói nghèo là yếu tố tiên quyết. Phân tích từ 60 hộ gia đình tại xã Mỹ Hưng đã chỉ ra một 'vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói' với nhiều yếu tố tác động qua lại. Các nguyên nhân này không chỉ đến từ điều kiện khách quan như thiếu đất đai, mà còn xuất phát từ các yếu tố nội tại của chính các hộ gia đình như trình độ học vấn, khả năng tiếp cận công nghệ và tâm lý e ngại rủi ro. Việc nhận diện rõ những rào cản này là cơ sở để thiết kế các giải pháp giảm nghèo tại Thanh Phú một cách toàn diện và trúng đích.

2.1. Vòng luẩn quẩn đói nghèo Thiếu đất và trình độ văn hóa thấp

Khảo sát cho thấy thực trạng thiếu đất sản xuất là một trong những nguyên nhân hàng đầu. Bên cạnh đó, trình độ học vấn của các chủ hộ còn rất hạn chế: 15% không đi học và 51,66% chỉ học hết tiểu học. Điều này tạo ra một rào cản lớn trong việc tiếp thu khoa học kỹ thuật mới, áp dụng các phương pháp canh tác tiên tiến. Sự kết hợp giữa thiếu tư liệu sản xuất và hạn chế về kiến thức đã đẩy nhiều hộ gia đình vào tình thế khó khăn, sản xuất manh mún, năng suất thấp và thu nhập bấp bênh, làm cho thực trạng kinh tế xã Mỹ Hưng khó có sự đột phá.

2.2. Hạn chế trong tiếp cận vốn và phương pháp sản xuất

Mặc dù có các chính sách giảm nghèo về vốn, nhưng việc tiếp cận vẫn còn nhiều khó khăn. Tài liệu nghiên cứu chỉ rõ, nhiều hộ không dám vay vốn ưu đãi cho hộ nghèo vì sợ không có khả năng trả nợ. Nguồn vốn từ Quỹ XĐGN có mức vay tối đa thấp (5 triệu đồng/năm vào thời điểm 2007), không đủ để đầu tư sản xuất quy mô lớn. Điều này buộc họ phải tìm đến các nguồn vay nóng với lãi suất cao. Thêm vào đó, phương pháp canh tác nhỏ lẻ, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và kinh nghiệm truyền thống khiến các mô hình thoát nghèo hiệu quả khó được nhân rộng.

2.3. Tác động từ yếu tố tự nhiên và biến đổi khí hậu

Là xã ven biển, Mỹ Hưng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các yếu tố thời tiết cực đoan, thiên tai và đặc biệt là tình trạng xâm nhập mặn. Tác động của biến đổi khí hậu đến giảm nghèo ngày càng rõ rệt, gây thiệt hại cho hoạt động trồng lúa và nuôi trồng thủy sản, vốn là nguồn thu nhập chính. Tình trạng mất mùa (chiếm 93,54% lý do thiếu ăn) là minh chứng rõ nét. Sự phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên trong khi thiếu các giải pháp ứng phó bền vững khiến sinh kế của người dân trở nên mong manh và dễ bị tổn thương.

III. Đánh Giá Hiệu Quả Chương Trình Giảm Nghèo Đã Triển Khai

Chính quyền địa phương đã triển khai nhiều chương trình nhằm cải thiện đời sống người dân, trọng tâm là các chính sách hỗ trợ vốn và kỹ thuật. Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo đã mang lại những kết quả ban đầu, giúp một bộ phận người dân có thêm nguồn lực để sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả của các chương trình này không đồng đều và còn gặp nhiều hạn chế. Việc đánh giá khách quan các hoạt động đã triển khai sẽ cung cấp bài học kinh nghiệm quý báu để hoàn thiện chính sách, đảm bảo an sinh xã hội tại Bến Tre được thực thi một cách hiệu quả nhất.

3.1. Phân tích chính sách hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho hộ nghèo

Chính sách cho vay vốn là công cụ chủ lực trong công tác XĐGN tại Mỹ Hưng. Khảo sát cho thấy 91,66% hộ được tiếp cận vốn vay. Nguồn vay chủ yếu đến từ ngân hàng (35,14%) và Quỹ XĐGN (44%). Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Như đã đề cập, mức vay từ Quỹ XĐGN còn thấp, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư. Các thủ tục vay vốn từ ngân hàng đôi khi còn phức tạp đối với người dân có trình độ học vấn thấp. Cần có sự điều chỉnh linh hoạt hơn về hạn mức và thời gian vay để người dân mạnh dạn đầu tư vào các mô hình thoát nghèo hiệu quả hơn.

3.2. Vai trò và hạn chế của công tác khuyến nông khuyến ngư

Công tác khuyến nông, khuyến ngư tại địa phương được ghi nhận là có hoạt động nhưng chưa thực sự hiệu quả. Chỉ 28,33% hộ được mời tham gia các chương trình. Nội dung tập huấn chủ yếu tập trung vào nuôi tôm công nghiệp, trong khi phần lớn người dân nuôi theo hình thức quảng canh và quảng canh cải tiến. Điều này dẫn đến sự thiếu phù hợp giữa lý thuyết và thực tiễn. Cần đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp bằng cách cử cán bộ xuống tận hộ, tìm hiểu khó khăn và hướng dẫn kỹ thuật phù hợp với điều kiện thực tế của từng hộ gia đình.

IV. Top 3 Mô Hình Kinh Tế Giúp Thoát Nghèo Tại Xã Mỹ Hưng

Bên cạnh những khó khăn, tại xã Mỹ Hưng đã xuất hiện một số mô hình kinh tế mang lại hiệu quả, giúp các hộ gia đình từng bước cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống. Những mô hình này tận dụng lợi thế của địa phương, kết hợp giữa truyền thống và kỹ thuật mới. Việc phân tích và nhân rộng các mô hình này là hướng đi quan trọng để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo ra sinh kế bền vững và góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại Mỹ Hưng.

4.1. Chuyển đổi từ độc canh lúa sang mô hình Tôm Lúa

Mô hình kết hợp 1 vụ tôm - 1 vụ lúa được áp dụng rộng rãi nhất, chiếm 75% số hộ được điều tra. Mô hình này tận dụng được điều kiện 6 tháng nước mặn, 6 tháng nước ngọt của địa phương. Phân tích cho thấy, mô hình tôm-lúa mang lại thu nhập bình quân 2,018 triệu đồng/1000m², cao hơn đáng kể so với độc canh. Tuy nhiên, hiệu quả vẫn phụ thuộc lớn vào chất lượng con giống và nguồn nước. Việc kiểm soát tốt hai yếu tố này sẽ giúp mô hình trở thành trụ đỡ vững chắc cho phúc lợi xã hội tại địa phương.

4.2. Phát triển chăn nuôi bò sinh sản quy mô hộ gia đình

Chăn nuôi bò sinh sản nổi lên như một hướng đi mới, tận dụng được thời gian nhàn rỗi và nguồn thức ăn tự nhiên. Mặc dù chi phí đầu tư con giống ban đầu khá cao (trung bình 8,8 triệu đồng/con), mô hình này mang lại thu nhập ổn định và ít rủi ro hơn so với nuôi tôm. Thu nhập từ nuôi bò chủ yếu dựa vào 'lấy công làm lời', giúp các hộ tăng thêm thu nhập và tích lũy tài sản. Đây là một mô hình thoát nghèo hiệu quả cần được hỗ trợ về vốn và kỹ thuật để phát triển.

4.3. Hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm phi nông nghiệp

Để giảm nghèo bền vững, việc chỉ dựa vào nông nghiệp là chưa đủ. Một bộ phận lao động trẻ tại Mỹ Hưng đã tìm đến các khu công nghiệp ở Đồng Nai, Bình Dương, TP.HCM để làm việc, mang lại nguồn thu nhập phụ thêm cho gia đình. Hoạt động này cho thấy nhu cầu cấp thiết về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Việc phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tại chỗ (như đan lát, chế biến thủy sản) và kết nối việc làm sẽ giúp giảm áp lực lên đất đai và đa dạng hóa nguồn thu nhập cho người dân.

V. Tác Động Thực Tiễn Của Giảm Nghèo Đến Đời Sống Người Dân

Công tác xóa đói giảm nghèo không chỉ thể hiện qua các con số vĩ mô mà còn được đo lường bằng những thay đổi cụ thể trong đời sống hàng ngày của mỗi gia đình. Nghiên cứu tại Mỹ Hưng đã so sánh chi tiết về mức sống, điều kiện sinh hoạt và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản giữa nhóm hộ nghèo và không nghèo. Sự khác biệt này cho thấy một bức tranh rõ nét về sự phân hóa giàu nghèo, đồng thời phản ánh những tác động tích cực và cả những mặt còn hạn chế của các chính sách đã thực hiện.

5.1. So sánh chi tiêu và tài sản giữa hộ nghèo và không nghèo

Dữ liệu cho thấy sự chênh lệch lớn về mức sống. Tổng chi tiêu một năm của hộ không nghèo (21,5 triệu đồng) cao hơn gấp đôi so với hộ nghèo (11,1 triệu đồng). Đáng chú ý, chi tiêu cho học hành ở hộ không nghèo cao hơn 328%, cho thấy các hộ nghèo ít có điều kiện đầu tư cho giáo dục của con cái. Về nhà ở, có đến 70% hộ điều tra sống trong nhà tạm bợ. Tài sản sản xuất của nông hộ còn rất ít, chủ yếu là các công cụ thô sơ, phản ánh sinh kế phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và sức lao động.

5.2. Cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn và tiếp cận dịch vụ

Mặc dù còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng nông thôn tại Mỹ Hưng đã có những cải thiện nhất định. 95% hộ gia đình đã được sử dụng điện lưới quốc gia. Công tác y tế được quan tâm với trạm y tế xã có bác sĩ, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cơ bản. Việc tiếp cận y tế và giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng giúp phá vỡ vòng luẩn quẩn đói nghèo. Tuy nhiên, cần tiếp tục đầu tư vào hệ thống giao thông, thủy lợi để phục vụ tốt hơn cho sản xuất và sinh hoạt, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới tại Mỹ Hưng.

VI. Giải Pháp Nào Cho Giảm Nghèo Bền Vững Tại Thanh Phú

Từ những phân tích về thực trạng, nguyên nhân và hiệu quả các chương trình, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược cho công tác giảm nghèo tại xã Mỹ Hưng nói riêng và huyện Thạnh Phú nói chung. Mục tiêu cuối cùng là hướng đến giảm nghèo bền vững, không chỉ giúp người dân thoát nghèo trước mắt mà còn tạo ra nền tảng vững chắc để họ tự vươn lên và cải thiện cuộc sống lâu dài.

6.1. Kiến nghị về chính sách vốn và kiểm soát chất lượng giống

Cần có chính sách tín dụng linh hoạt hơn, nâng hạn mức và kéo dài thời gian cho vay đối với các hộ nghèo để họ đủ vốn đầu tư vào các mô hình sản xuất có chu kỳ dài như chăn nuôi bò. Đồng thời, chính quyền địa phương cần tăng cường kiểm soát chặt chẽ chất lượng con giống (đặc biệt là tôm giống) và vật tư nông nghiệp đầu vào để giảm thiểu rủi ro và thiệt hại cho người dân. Đây là giải pháp cấp thiết để bảo vệ thành quả sản xuất và thu nhập của họ.

6.2. Đa dạng hóa sinh kế và đẩy mạnh công tác khuyến nông

Không nên phụ thuộc vào một vài mô hình chủ lực. Cần khuyến khích người dân đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi. Công tác khuyến nông, khuyến ngư phải được đổi mới theo hướng 'cầm tay chỉ việc', bám sát thực tế sản xuất của người dân. Cần tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng lúa, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản theo hình thức quảng canh cải tiến, phù hợp với nguyện vọng và điều kiện của đa số hộ dân. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo ra một hệ thống an sinh xã hội tại Bến Tre ngay từ gốc.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp phát triển nông thôn đánh giá hiện trạng xóa đói giảm nghèo ở xã mỹ hưng huyện thạnh phú tỉnh bến tre

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chương II: Tổng quan. Chương III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu. Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương V: Kết luận và kiến nghị.

CHƯƠNG II TÔNG QUAN 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Xã Mỹ Hưng năm phía bắc của huyện Thạnh Phú, diện tích tự nhiên là 1.377,76ha cách thị tran Thạnh Phú khoảng 3.5km gồm 4 ấp: Thạnh Khương, Thanh Trị Thượng, Thạnh Mỹ, Thạnh Hưng. Dân số toàn xã năm 2005 là 8.791 người với 1.825 người với 1.872 người với 1.

Dân cư sống chủ yếu dộc theo hành lang quốc lộ 57. Ranh giới hành chính Phía Đông giáp sông Băng Cung Phía Tây giáp xã Hoà Lợi Phía Nam giáp Thị Trấn Thạnh Phú Phía Bắc giáp xã Quới Điền 2. Địa điểm địa hình địa chất 2. Địa hình Xã Mỹ Hung có địa hình bằng phẳng, địa hình thấp dọc theo thềm sông.

Chênh lệch độ cao 50-60cm. Do quá trình bồi lắng phù sa vàm Băng Cung nên địa hình có khuynh hướng cao dan về phía thị trấn Thạnh Phú. Địa chất Có 3 dạng địa chất chính. +Déng bang châu thổ nhiễm lg +Đồng bằng châu thổ nhiễm mặn +Giồng cát 2.

Điều kiện khí hậu thời tiết Khí hậu của huyện Thạnh Phú nói chung và của xã nói riêng có đặc thù chung của khí hậu vùng Tây Nam bộ là khí hậu gió mùa cận xích đạo và phân hoá thành 2 mùa rõ rệt với một số đặc trưng của vùng cận duyên Biển Đông. Với nhiệt độ cao đều là điều kiện đảm bảo nhiệt lượng cao cho nuôi trồng thuỷ sản và cây trồng quanh năm. Nhiệt độ Nền nhiệt độ cao và 6n định quanh năm, nhiệt độ trung bình hàng năm 26,6°C, cao nhất vào tháng 4 là 28,4°C và thấp nhát là 24,3°C vào tháng 12. Độ am Do gần biển độ âm tương đối của xã nói chung khá cao 81-83,7% vào mùa mưa có khi đạt 84-94%, thấp nhất là vào tháng 2-3 là 60-80%.

Gió Xã Mỹ Hưng chịu ảnh hưởng của gió mùa, gió mùa Tây Nam mang theo mưa từ tháng 5-10 hàng năm và gió mùa Đông Bắc trong mùa khô với vận tốc 3-5m/s. Mưa Với vi tri vùng cận duyên biến Đông, xã Mỹ Hưng là khu vực có lượng mưa thấp nhất là Đồng bằng Sông Cửu Long, lượng mưa hàng năm 1.279mm và tương phản rỏ rệt giữa hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa khô kéo dai trong 6 tháng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dai từ trong tháng 6 từ thang 5-10. Lượng mưa phân hoá theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp, mùa mưa (vụ hè thu và vụ mùa) đủ nước ngọt dé cấy lúa và trồng cây rau màu.

Ngược lại, mùa khô (vụ Đông xuân) không đủ lượng nước ngọt 5 để tưới rau màu và lúa. Vì vậy, diện tích cấy lúa hầu hết chỉ sản xuất được mốt vụ vào mùa mưa, còn lại là diện tích đất nuôi thuỷ sản nước ngọt. *Nhận xét về đặc điểm tự nhiên của xã hội Về đặc điểm tự nhiên của xã rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là phát triển kinh tế thuỷ sản nước ngọt. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế sẵn có của địa phương, quá trình phát triển kinh tế đã làm cho môi trường thay đổi.

Nguyên nhân do chưa có quy hoạch đồng bộ trong quá trình sản xuất, đời sống sinh hoạt của dân cư, việc sử dụng hoá chất nuôi trồng thuỷ sản đã làm ô nhiễm môi truờng, đặc biệt là tầng nước mặt. Vì vậy cần phải có giải pháp đầu tư cơ sở hạ tầng tích cực, đầu tư khắc phục ô nhiễm do công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, giao thông, y tế. dé phát triển bề vững trong tương lai. Điều kiện kinh tế xã hội 2.

Vấn đề kinh tế 2. Tình hình sử dụng đất đai Tổng diện tích đất toàn xã là 1.377,76ha Trong đó: Nhóm đất nông nghiệp là 1.210,19ha (89%) Nhóm đất phi nông nghiệp là 167,58ha(9,7%) Bình quân đầu người là 0,13ha 2. Tình hình sản xuất *Trồng trọt Trong thời gian qua, sản xuất nông nghiệp của xã phát triển tương đối hoàn thiện, từng bước phá vỡ thế đa cây đa con, xây dựng và phát triển một số mô hình kinh tế có hiệu quả khai thác tốt tiềm năng đất đai và lao động Tổng diện tích đất đai canh tác 1 vụ tôm Ivy lúa là 30ha, diện tích dat trồng dừa là 90ha năm dọc theo các rạch, bờ và những vùng đất gò cao. *Chăn nuôi -Năm 2005, tổng dan gia súc gia cầm ở địa phương là 11.325 con -Năm 2006, tổng đàn gia súc gia cầm ở địa phương là 21.580 con -Năm 2007, tổng đàn gia súc gia cầm ở địa phương là 20.813 con Trong những năm gần đây đàn gia súc gia cằm giảm mạnh nguyên nhân là do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, đàn bò tăng do giá cả én định hộ dân nuôi có lãi.

*Nuôi trồng thuỷ sản Năm 2005 có 637 hộ nuôi với diện tích 437,5ha, tổng lượng giống thả là 8. Trong đó, lãi 75%; hoà 4%; lỗ 21%. Năm 2006 có 645 hộ nuôi với điện tích 450ha, tổng lượng giống thả là 12. Năm 2007 có 648 hộ nuôi với điện tích 4450ha, tổng lượng giống thả là 12.

Tuy sản lượng có tăng, nhưng hiệu quả thu nhập sau nhà đầu tư của người nuôi không cao bằng những năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là đo chỉ phí đầu vào cao. Ngoài việc nuôi tôm bà con nông dân ở địa phương còn tận dụng cả diện tích mặt nước ao hồ dé thả nuôi cua, cá các loại. Khai thác nguồn tôm thiên nhiên và các nguồn thu thuỷ sản khác và việc khai thác thuỷ sản nội địa như: đóng đáy, đăng, rập.

Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Nhìn chung xã Mỹ Hưng chủ yếu dựa vào hoạt động kinh tế nông nghiệp là chính nên hoạt động công nghiệp còn hạn chế. Để phát triển công nghiệp theo hướng đa dạng hoá về quy mô và loại hình sản xuất công nghiệp, khuyến khích phát triển các ngành nghé tiêu thủ công nghiệp va ngành nghé truyền thống địa phương. Năm 2005 có 51 hộ kinh doanh mua bán, 6 hộ bán tôm st giống, đóng góp thu nhập toàn xã là 221.000đ chiếm 23,57%GDP toàn xã. 7 Năm 2006 có 53 hộ kinh doanh mua bán, 6 hộ bán tôm sú giống, đóng góp thu nhập toàn xã là 229.000đ chiếm 22,03% GDP toàn xã.

Năm 2007 có 55 hộ kinh doanh mua bán, 7 hộ bán tôm sú giống, đóng góp thu nhập toàn xã là 247.000đ chiếm 21,02% GDP toàn xã. Văn hoá xã hội *Giao dục đào tao Chat lượng giáo đục ngày càng tăng: 100% số trẻ em 6 tuổi trên toàn xã vào lớp 1. Công tác phổ cập THCS đã huy động được 49 em trong độ tuổi ra lớp, thi tốt nghiệp phổ cập THCS đạt 91. Công tác thông tin tuyên truyền có những chuyển biến tích cực, duy trì tốt chế độ tiếp âm, phát thanh mở rộng khắp toàn xã.

Y tế Công tác chăm sóc sức khoẻ của người dân được quan tâm. Đội ngũ cán bộ được bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ với 1 bác sĩ tạo điều kiện cho ngành y làm tốt nhiệm vụ. Trong năm 2005, khám và điều trị được 2.341 bệnh nhân; năm 2006, khám và điều trị được 5.582 bệnh nhân; năm 2007, khám và điều trị được 5. Chương trình XDGN Công tác XDGN luôn được quan tâm thực hiện.

BCD-XDGN xã từng bước hoạt động có hiệu quá. Năm 2005 tổng số hộ nghèo là 207 hộ chiếm 11,53%; Năm 2006 tông số hộ nghèo là 533 hộ chiếm 23,68% (theo tiêu chí mới); Năm 2007 tổng số hộ nghèo là 496 hộ chiếm 27,63% (theo tiêu chí mới). *Nhận xét chung Tình hình kinh tế văn hoá XH phát triển, đời sống của nhân dân từng bước được nâng cao. Nuôi trồng thuỷ sản thời tiết thuận lợi ít địch bệnh xảy ra, phần lớn người dân nuôi có lãi.

CHUONG III NOI DUNG VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU 3. Co sở lý luận 3. Khái niệm về nghèo đói 3. Định nghĩa về nghèo đói “Nghèo đới là tình trạng một bộ phận dân cư không thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được XH thừa nhận tuỳ theo tình trạng phát triển KTXH và phong tục tập quán ở dia phương”.

Khái niệm về nghèo Nghèo là tình trang thu nhập thực tế của người dân chỉ đành cho hau như nhu cầu ăn, thậm chí không đủ dé chi cho ăn, phần tích luỹ hầu như không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra còn có các mặt khác: nhà ở, ăn mặc, giáo dục, y tế, giải trí, đi lại chỉ đóng góp một phan rat ít Oi không đáng kể. Nghèo đói ở Việt Nam 3. Ngưỡng đánh giá nghèo đói *Ngưỡng nghèo đói trên toàn quốc Trong những năm qua chương trình XĐGN được Đảng và Nhà nước quan tâm chi đạo, nhiều chính sách ưu đãi giúp cho người nghèo cải thiện kinh tế từng bước 6n định cuộc sống, mang lại hiệu quả thiết thực kéo giảm tý lệ hộ nghèo của cả nước hàng năm xuống đáng kẻ.

Xác định xoá đói giảm nghèo là một trong những công tác trọng tâm của Đảng và Nhà nước và đã đề ra những mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo theo từng giai đoạn nhằm xác lập thành quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn động cho từng giai đoạn thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo. Củng cé ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo từ huyện đến xã, thị tran để nâng cao hiệu qua lao động: hỗ trợ người nghèo để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội: hỗ trợ về y tế, bảo hiểm, giáo dục, bảo trợ xã hội. Đảng và Nhà nước đề ra những mức đánh giá hộ nghèo theo từng giai đoạn. Theo công văn số 173/CV-UB ngày 26/2/2001 của UBND tỉnh Bến Tre về thông báo chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001/2005, gồm 4 mức: L.000đ/ người tháng ở nông thôn và thành thị.000đ/ người / tháng ở nông thôn và100.000đ/người/tháng ở thành thị.000đ/người/ tháng ở nông thôn và120.000đ/người /tháng ở thành thị.000đ/người/tháng ở nông thôn và I50.000đ/người/ thang ở thành thị.

Hiện nay theo quy định cụ thé số 170/2005/QĐ-TT ngày 08/7/2005 chuẩn mới. Nông thôn: Những hộ được xem là nghèo nếu có thu nhập<200.000đ/người /tháng.000đ/người/tháng. *Ngưỡng nghèo đói tại địa phương Thực hiện mục tiêu của ban chi đạo XĐGN của ca nước, tỉnh Bến Tre xác định chuẩn nghèo đói dựa trên chuẩn nghèo của cả nước. Năm 1998, Sở LĐTBXH tỉnh Bến Tre có cuộc điều tra đời sống kinh tế xã hội hộ nghèo trên toàn tỉnh.

Tiêu chuẩn được quy định chung cho cả nông thôn và thành thị là mức thu nhập <50.000đ/ngườitháng. Hộ nghèo ở nông thôn là 50.000đ/người/tháng, ở thành thị là 50.000đ/người “tháng. Như vậy ngay từ đầu năm1998, tỉnh Bến Tre đã áp dụng ngưỡng nghèo khá cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ