Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam, đặc biệt trong lộ trình thực hiện mục tiêu đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển và cơ bản trở thành nước công nghiệp. Xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre là một xã thuần nông ven biển, đời sống người dân phụ thuộc lớn vào tài nguyên tự nhiên và sản xuất nông nghiệp, thủy sản. Dù các chính sách hỗ trợ đã được triển khai, tỷ lệ hộ nghèo và nguy cơ tái nghèo trên địa bàn vẫn ở mức cao do biến động thời tiết, thiếu đất canh tác, thiếu vốn, trình độ học vấn còn hạn chế và phương thức sản xuất nhỏ lẻ. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Huỳnh Công Tạo (ngành Khuyến nông và Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, thực hiện năm 2007) được triển khai nhằm đánh giá toàn diện thực trạng đời sống, sinh kế và hiệu quả của các chương trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định qua 8 nội dung cụ thể:

  1. Khảo sát tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội tại địa phương.
  2. Khảo sát thực trạng nghèo đói trên địa bàn xã Mỹ Hưng.
  3. Tìm hiểu các yếu tố tác động trực tiếp đến tình trạng nghèo đói.
  4. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các nông hộ.
  5. Đánh giá điều kiện sống, sinh hoạt và tiện nghi của người dân.
  6. Tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của hoạt động khuyến nông, khuyến ngư tới sản xuất của hộ.
  7. Thu thập và phân tích số liệu công tác xóa đói giảm nghèo tại địa bàn huyện Thạnh Phú và xã Mỹ Hưng.
  8. Đề xuất hệ thống giải pháp và mô hình sản xuất phù hợp nhằm góp phần giảm nghèo bền vững tại xã.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Địa bàn xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
  • Thời gian dữ liệu: Các số liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2005 - 2007.
  • Thời gian thực địa: Tiến hành khảo sát, điều tra từ tháng 8/2007 đến tháng 11/2007.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề giảm nghèo dựa trên các khái niệm chuẩn mực về nghèo đói: tình trạng một bộ phận dân cư không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu của đời sống (ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục) được xã hội thừa nhận theo từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội. Tác giả vận dụng mô hình "Vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói" để giải thích mối quan hệ tương hỗ giữa nghèo đói với các hệ quả: thiếu vốn, dinh dưỡng kém, thất học, bệnh tật, gia tăng dân số, suy thoái môi trường và phát sinh tệ nạn xã hội.

Khung phân loại chuẩn nghèo được căn cứ trên hai hệ thống văn bản quy định:

  • Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ: Chuẩn nghèo mới quy định mức thu nhập dưới 200.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và dưới 260.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị.
  • Công văn số 173/CV-UB ngày 26/2/2001 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre: Phân định chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2001 - 2005 gồm 4 mức (Loại A, B, C, D). Tại khu vực nông thôn: Loại A (< 50.000 đồng/người/tháng), Loại B (50.000 - dưới 80.000 đồng/người/tháng), Loại C (80.000 - dưới 100.000 đồng/người/tháng), Loại D (100.000 - dưới 120.000 đồng/người/tháng).

Phương pháp nghiên cứu bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu mô tả kết hợp phân tích thống kê kinh tế.
  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2005 - 2007 từ Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hưng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Thạnh Phú và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Điều tra trực tiếp bằng bảng hỏi (Phiếu điều tra nông hộ) đối với mẫu khảo sát gồm 60 hộ gia đình và phỏng vấn 4 tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh) tại xã Mỹ Hưng trong năm 2007.
  • Xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp bảng biểu, biểu đồ và tính toán chỉ tiêu kinh tế theo công thức: $$\text{Thu nhập (TN)} = \text{Doanh thu (DT)} - (\text{Chi phí vật tư} + \text{Chi phí lao động thuê})$$

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Mở đầu

Chương này thiết lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia đến năm 2010 và định hướng 2020. Tác giả xác định rõ mục đích nghiên cứu, ý nghĩa lý luận và thực tiễn, phạm vi thời gian (2005 - 2007), không gian (xã Mỹ Hưng) cùng cấu trúc 5 chương của khóa luận.

Chương II: Tổng quan

Chương II trình bày bức tranh tổng thể về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Mỹ Hưng:

  • Tự nhiên: Diện tích tự nhiên toàn xã là 1.377,76 ha, gồm 4 ấp (Thạnh Khương, Thạnh Trị Thượng, Thạnh Mỹ, Thạnh Hưng), dân số năm 2005 là 8.791 người (1.872 hộ). Địa hình mang đặc trưng đồng bằng thấp trũng ven sông Băng Cung, chênh lệch độ cao 50 - 60 cm, thổ nhưỡng gồm đất phù sa nhiễm lợ, đất nhiễm mặn và đất giồng cát. Khí hậu cận xích đạo gió mùa ven biển với 2 mùa rõ rệt, lượng mưa bình quân năm đạt 1.279 mm (thuộc nhóm thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long), có 6 tháng nước ngọt (tháng 5 - 10) và 6 tháng nước mặn (tháng 11 - 4 năm sau).
  • Kinh tế: Đất nông nghiệp chiếm 1.210,19 ha (89% tổng diện tích), đất phi nông nghiệp chiếm 167,58 ha (9,7%), diện tích đất bình quân đầu người là 0,13 ha. Trồng trọt gồm 30 ha mô hình 1 vụ tôm - 1 vụ lúa và 90 ha dừa. Đàn gia súc, gia cầm có xu hướng biến động (năm 2005: 11.325 con; năm 2006: 21.580 con; năm 2007: 20.813 con). Diện tích nuôi thủy sản năm 2007 đạt 450 ha với 648 hộ tham gia. Hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ còn nhỏ lẻ (năm 2007 có 55 hộ kinh doanh và 7 hộ bán tôm sú giống, đóng góp 247 triệu đồng, tương đương 21,02% GDP xã).
  • Xã hội và giảm nghèo: Trạm y tế có 1 bác sĩ, tổ chức khám chữa bệnh cho hơn 5.500 lượt bệnh nhân mỗi năm. Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã theo tiêu chí mới ghi nhận: năm 2005 là 207 hộ (11,53% theo chuẩn cũ), năm 2006 là 533 hộ (23,68%) và năm 2007 là 496 hộ (27,63%).

Chương III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả hệ thống hóa các cơ sở lý luận về nghèo đói tuyệt đối, nghèo đói tương đối, phân tích các chuẩn nghèo qua các thời kỳ của quốc gia và tỉnh Bến Tre (Công văn số 173/CV-UB và Quyết định 170/2005/QĐ-TTg). Chương này cũng phân tích mô hình vòng luẩn quẩn nghèo đói và chi tiết hóa phương pháp điều tra 60 mẫu hộ, phương pháp xử lý số liệu cùng công thức xác định thu nhập nông hộ.

Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương IV tập trung phân tích sâu các dữ liệu điều tra thực địa 60 hộ gia đình tại xã Mỹ Hưng:

1. Đặc điểm nhân khẩu, giáo dục và điều kiện sinh hoạt: Trong 60 hộ điều tra có tổng cộng 316 nhân khẩu, trong đó 190 người trong độ tuổi lao động (60,12%) và 126 người phụ thuộc (39,88%). Trình độ học vấn của chủ hộ nhìn chung ở mức thấp: 15% không đi học (9 chủ hộ), 51,66% học hết tiểu học (31 chủ hộ), 21,66% học dở dang THCS (13 chủ hộ) và chỉ có 11,26% học hết cấp THCS (7 chủ hộ).

Khoản mục điều tra Số lượng / Tỷ lệ
Cơ cấu lao động (316 người) - Lao động nông nghiệp: 270 người (85,44%)
- Lao động phi nông nghiệp: 46 người (14,56%)
Thực hiện Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) - 51 hộ biết đến chương trình (qua TV/đài: 31 hộ; Hội Phụ nữ: 19 hộ)
- 50 hộ áp dụng (83,33%); 10 hộ không áp dụng (16,67% - do quan niệm: 41%, sợ không an toàn: 53%)
Hiện trạng nhà ở - Nhà tạm bợ (mái lá, vách đất, nền đất): 42 hộ (70%)
- Nhà kiên cố: 11 hộ (18,33%)
- Nhà bán kiên cố: 7 hộ (11,67%)
Tiện nghi sinh hoạt & Điện nước - Có sử dụng điện: 57 hộ (95%, trong đó 55 hộ dùng lưới điện quốc gia)
- Phương tiện: 47 radio, 32 tivi, 39 xe đạp, 15 xe máy, 11 máy may, 8 nồi cơm điện
Tư liệu sản xuất - Máy bơm nước: 23 cái; Xuồng: 15 cái; Ghe máy: 4 cái (không có máy nông nghiệp lớn)

2. Thực trạng nghèo đói và tình hình thiếu ăn: Trong mẫu điều tra, 35 hộ từng có sổ hộ nghèo (58,33%), hiện tại còn 27 hộ có sổ nghèo (45%), có 8 hộ đã thoát nghèo. Đánh giá theo chuẩn thu nhập mới có 20 hộ nghèo (chuẩn cũ là 11 hộ). Trong 3 năm gần nhất, có 31 hộ từng trải qua tình trạng thiếu ăn (51,67%), nguyên nhân chính do mất mùa (93,54%) và ốm đau bệnh tật (6,46%). Thời điểm thiếu đói tập trung vào tháng 11 Âm lịch do giáp hạt và chưa có nguồn thu từ vụ tôm.

3. Hiệu quả các mô hình sản xuất nông hộ:

  • Sản xuất lúa: Có 16 hộ canh tác lúa (26,66% mẫu). 76% số hộ trồng lúa có thu nhập dương, nhưng có đến 24% số hộ bị lỗ. Năng suất bình quân đạt 190 kg/1.000 $m^2$. Các hộ quy mô nhỏ dưới 5.000 $m^2$ đạt năng suất cao hơn nhờ tập trung công lao động chăm sóc.
  • Chăn nuôi bò: 11 hộ nuôi bò sinh sản (18,33%), quy mô 1 - 3 con/hộ, thu nhập bình quân đạt 2.420.000 đồng/hộ/năm. Mô hình chủ yếu tận dụng công cắt cỏ tự nhiên, lấy công làm lời, nhưng gặp khó khăn do thiếu thức ăn vào mùa nước mặn (tháng 1 - 6) và giá mua con giống cao (khoảng 8,8 triệu đồng/con).
  • Chăn nuôi heo: 15 hộ nuôi heo thịt (25%), nuôi 2 đợt/năm, mỗi đợt trung bình 4 con giống siêu nạc. Thu nhập bình quân ròng chỉ đạt 715.000 đồng/hộ/năm, chi phí công lao động gia đình chiếm tới 80% giá trị thu nhập.
  • Nuôi trồng thủy sản (tôm, cua): Hình thức canh tác chủ yếu là quảng canh và quảng canh cải tiến (quảng canh cải tiến chiếm 41,33% ở vụ 1 và mang lại thu nhập cao hơn quảng canh 17,31%). Hộ có tham gia tập huấn khuyến ngư đạt năng suất vụ 1 là 48,24 kg/1.000 $m^2$, cao hơn 89% so với hộ không tham gia (25,55 kg/1.000 $m^2$). Về mô hình kết hợp, mô hình tôm - lúa chiếm 75% số hộ với thu nhập bình quân 2.018.000 đồng/1.000 $m^2$, cao hơn so với mô hình chuyên tôm (1.015.000 đồng/1.000 $m^2$).
Chỉ tiêu kinh tế sản xuất tôm năm 2007 Nhóm hộ có sổ nghèo Nhóm hộ ngoài nghèo
Chi phí đầu tư ban đầu (đồng/1.000 $m^2$) 1.996.330 1.167.440
Chi phí lao động thuê (đồng/1.000 $m^2$) 266.390 114.200
Năng suất thu hoạch (kg/1.000 $m^2$) 27,85 42,10
Tỷ số Thu nhập / Chi phí (TN/CP) 0,19 lần 0,73 lần

Ghi chú: Hộ nghèo có chi phí đầu tư cao hơn 71% do phải mua chịu con giống và vật tư nông nghiệp với giá cao, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp hơn đáng kể.

4. Phân tích thu chi và tiếp cận vốn vay:

  • Chi tiêu: Tổng chi tiêu bình quân của 60 hộ đạt 20.282.000 đồng/hộ/năm. Hộ nghèo chi tiêu bình quân 11.143.000 đồng/năm (chi ăn uống chiếm 60,12%), trong khi hộ không nghèo chi 21.581.000 đồng/năm. Đáng chú ý, khoản chi cho đám tiệc chiếm tỷ trọng rất cao ở cả hai nhóm hộ (20% ở hộ nghèo và 22% ở hộ không nghèo). Chi cho học hành ở hộ không nghèo cao hơn hộ nghèo tới 328%.
  • Vốn tín dụng: Nguồn vay từ ngân hàng chiếm 35,14% tổng vốn (20 hộ vay, bình quân 5,085 triệu đồng/hộ, lãi suất 1,2%/tháng). Quỹ XĐGN hỗ trợ 25 hộ vay nhưng hạn mức khống chế tối đa chỉ 5 triệu đồng/hộ/năm, khiến 57,79% lượng vốn vay phải dồn vào nuôi tôm và nhiều hộ thiếu vốn sản xuất phải vay ngoài với lãi suất cao.
  • Hoạt động đoàn thể (giai đoạn 2005 - 2007): Hội Nông dân nâng số hội viên từ 813 lên 1.018 người, giải ngân vốn vay đạt 1,836 tỷ đồng; Hội Phụ nữ tăng từ 903 lên 1.141 hội viên, dư nợ vốn vay đạt 2,875 tỷ đồng; Đoàn Thanh niên năm 2007 có 184 đoàn viên (71 đoàn viên nghèo, 18 người được vay 100 triệu đồng); Hội Cựu chiến binh có 87 hội viên (18 hội viên nghèo, chưa tiếp cận được nguồn vốn vay).

Chương V: Kết luận và kiến nghị

Chương cuối tóm lược các phát hiện nghiên cứu về nguyên nhân nghèo đói (thiếu đất, thiếu vốn, kỹ thuật kém, mua chịu vật tư giá cao, độc canh tôm gặp rủi ro môi trường) và đề xuất nhóm khuyến nghị hành động cụ thể cho chính quyền và nông hộ.


Kết quả và đóng góp

1. Kết quả nghiên cứu chính

  • Làm rõ cơ cấu kinh tế và phân hóa giàu nghèo tại xã Mỹ Hưng: Xác định đất đai và vốn đầu tư là hai yếu tố phân hóa mạnh nhất. Hộ nghèo thiếu đất canh tác, phải chịu chi phí đầu vào cao hơn 71% so với hộ không nghèo do mua nợ con giống và thức ăn.
  • Chỉ ra hiệu quả vượt trội của mô hình luân canh tôm - lúa (thu nhập 2.018.000 đồng/1.000 $m^2$) so với độc canh tôm hoặc trồng lúa thuần, đồng thời chứng minh vai trò của tập huấn khuyến nông (giúp tăng năng suất tôm vụ 1 lên 89%).
  • Nhận diện những bất cập trong triển khai chính sách: Hạn mức vay quỹ Xóa đói giảm nghèo còn thấp (tối đa 5 triệu đồng/năm), công tác khuyến ngư chưa bám sát kỹ thuật nuôi quảng canh cải tiến, và tình trạng thiếu đói cục bộ thường diễn ra vào tháng 11 Âm lịch.

2. Hệ thống giải pháp do tác giả đề xuất

  • Đối với chính quyền địa phương và cơ quan chức năng:
    • Kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng tôm giống lưu thông trên địa bàn và kiểm tra, xử lý ô nhiễm nguồn nước mặt tại các tuyến kênh rạch cấp thoát nước.
    • Kiến nghị Ngân hàng Chính sách xã hội nâng định mức cho vay và kéo dài chu kỳ tín dụng để người dân có đủ vốn chuyển dịch sang chăn nuôi gia súc (bò, dê).
    • Điều chỉnh nội dung khuyến ngư: Chuyển trọng tâm từ hướng dẫn kỹ thuật nuôi công nghiệp sang hỗ trợ kỹ thuật nuôi quảng canh cải tiến và xây dựng các điểm trình diễn mô hình tôm - lúa.
    • Tận dụng hệ thống truyền thanh xã để thông báo kịp thời lịch thời vụ, lịch xả nước, và cảnh báo dịch bệnh.
  • Đối với người dân:
    • Nghiêm túc tuân thủ lịch xuống giống theo khuyến cáo để tránh thời điểm độ mặn thấp hoặc nguồn nước ô nhiễm.
    • Tích cực tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật, áp dụng đa dạng hóa cây trồng - vật nuôi (kết hợp tôm - lúa, nuôi bò sinh sản), tránh độc canh con tôm.
    • Thực hành tiết kiệm, điều chỉnh giảm các khoản chi tiêu chưa thiết thực như chi phí đám tiệc (chiếm 20 - 22% tổng chi tiêu gia đình).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát sơ cấp dừng lại ở quy mô mẫu 60 hộ gia đình trên địa bàn 1 xã thuần nông (Mỹ Hưng) trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 11/2007. Các phân tích kinh tế chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh chênh lệch số học, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng hồi quy đa biến để kiểm định độ nhạy của các nhân tố tác động đến thu nhập.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn điều tra trên toàn bộ các xã thuộc vùng ven biển của huyện Thạnh Phú; theo dõi chu kỳ kinh tế nông hộ qua nhiều năm liên tiếp; áp dụng mô hình hàm hồi quy (như Probit/Logit hoặc OLS) để lượng hóa chính xác mức độ tác động của diện tích đất, vốn vay, trình độ học vấn và khuyến nông đến xác suất thoát nghèo của hộ dân.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo thực tế cho:

  • Sinh viên, học viên các ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị phát triển cộng đồng và Xã hội học khi nghiên cứu về sinh kế nông hộ và phương pháp đánh giá nghèo đói cấp vi mô.
  • Cán bộ làm công tác giảm nghèo, khuyến nông - khuyến ngư tại các huyện ven biển Đồng bằng sông Cửu Long đang xây dựng đề án hỗ trợ chuyển dịch mô hình lúa - tôm và quản lý tín dụng vi mô cho người nghèo.
  • Phần bảng hỏi điều tra nông hộ chi tiết (Phụ lục) có thể được ứng dụng làm khung mẫu thu thập số liệu kinh tế - xã hội tại các địa bàn nông thôn có điều kiện tương đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng quy mô mẫu điều tra thực tế là bao nhiêu?
Khóa luận đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 60 hộ gia đình tại xã Mỹ Hưng và thu thập số liệu hoạt động từ 4 tổ chức đoàn thể địa phương (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh).

2. Nguyên nhân chính khiến nông hộ tại xã Mỹ Hưng bị thiếu ăn trong 3 năm (2005 - 2007) là gì?
Theo kết quả khảo sát 31 hộ từng thiếu ăn, có 93,54% số hộ xác nhận nguyên nhân chính là do mất mùa trong sản xuất (chủ yếu là thất thu tôm nuôi và lúa), 6,46% là do đau ốm, bệnh tật làm mất sức lao động và cạn kiệt tài chính. Tình trạng thiếu ăn thường xảy ra vào tháng 11 Âm lịch.

3. Hiệu quả kinh tế giữa mô hình luân canh tôm - lúa và độc canh tôm chênh lệch ra sao?
Mô hình luân canh 1 vụ tôm - 1 vụ lúa đem lại thu nhập bình quân 2.018.000 đồng/1.000 $m^2$ (chiếm 75% số hộ áp dụng), trong khi mô hình độc canh tôm chỉ đạt thu nhập bình quân 1.015.000 đồng/1.000 $m^2$ do gặp nhiều rủi ro về dịch bệnh và ô nhiễm nguồn nước.

4. Tại sao chi phí đầu tư nuôi thủy sản của hộ nghèo lại cao hơn hộ ngoài nghèo?
Hộ nghèo thiếu vốn tự có nên buộc phải mua con giống và vật tư nông nghiệp theo hình thức trả chậm (mua nợ), khiến giá mua đầu vào bị đội lên cao hơn 71% so với các hộ ngoài nghèo có sẵn tiền mặt để thanh toán trực tiếp.

5. Điểm bất cập lớn nhất trong công tác cho vay vốn từ Quỹ Xóa đói giảm nghèo tại địa phương là gì?
Hạn mức cho vay của Quỹ XĐGN tại thời điểm khảo sát bị giới hạn ở mức tối đa 5 triệu đồng/hộ/năm. Khoản tiền này quá nhỏ, không đủ để đầu tư con giống thủy sản hay mua bò sinh sản, trong khi hộ đã vay quỹ này thì không được tiếp cận các nguồn vay ưu đãi khác, buộc họ phải tìm đến các nguồn vay nóng bên ngoài.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Công Tạo đã phản ánh một cách chân thực, khách quan thực trạng kinh tế - xã hội và công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Hưng, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre giai đoạn 2005 - 2007. Bằng việc kết hợp khảo sát thực địa 60 hộ nông dân và tổng hợp số liệu quản lý nhà nước, công trình đã làm rõ các rào cản nội tại của hộ nghèo về đất đai, vốn tín dụng, học vấn và phương thức canh tác. Những giải pháp phát triển mô hình tôm - lúa, chăn nuôi bò sinh sản gắn với đổi mới công tác khuyến ngư được đề xuất có tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác hoạch định chính sách phát triển nông thôn tại địa phương.