Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài - Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Quốc hội, 2014) - Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành (Quốc hội, 2014) - Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác. - Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (Quốc hội, 2014) - Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác (Quốc hội, 2014). - Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải.
- Phế liệu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu, sản phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác (Quốc hội, 2014). - Sức chịu tải của môi trường là giới hạn chịu đựng của môi trường đối với các nhân tố tác động để môi trường có thể tự phục hồi (Quốc hội, 2014). - Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường (Quốc hội, 2014). m 5 - Thông tin về môi trường là số liệu, dữ liệu về môi trường dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự (Quốc hội, 2014).
- Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển để đưa ra giải pháp giảm thiểu tác động bất lợi đến môi trường, làm nền tảng và được tích hợp trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững (Quốc hội, 2014). - Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó (Quốc hội, 2014). Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13, ngày 23 tháng 06 năm 2014; - Luật Bảo vệ Môi trường số: 72/2020/QH14, ngày 17 tháng 11 năm 2020 - Nghị định 40/2019/NĐ-CP ngày 13/5/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường; - Thông tư 25/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường và quy định quản lý hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường. - Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ Quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.
- Thông tư số 12/2020/TT-BKHĐT, ngày 28 tháng 12 năm 2020 của CHính phủ hướng dẫn chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức cảu Ban Quản lý các KCN, KCX và KKT. - Thông tư số 35/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; m 6 - Thông tư số 19/2015/TT-BTNMT ngày 23/4/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết việc thẩm định điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường và mẫu giấy chứng nhận; - Căn cứ Quyết định số 130/2000/QĐ-TTg ngày 20/11/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Quản lý các Khu Công nghiệp Thái Nguyên; - Quyết định số 596/QĐ-UBND ngày 05/3/2021 của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý các Khu Công nghiệp Thái Nguyên. - Quyết định số 1261/QĐ- TTg ngày 5/9/2012 của Chính phủ về Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; - Quyết định số 166/QĐ- TTg ngày 21/1/2014 của Chính phủ về Kế hoạch thực hiện Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; - Quyết định số 2976/QĐ-UBND ngày 24/11/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt Quy hoạch Quản lý chất thải rắn vùng tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025 tầm nhìn đến 2050. Cơ sở thực tiễn 1.
Hiện trạng ô nhiễm môi trường của các Khu công nghiệp trên thế giới Trong thời gian qua, việc gây ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất công nghiệp nói chung và KCN nói riêng đã gây sức ép không nhỏ đến môi trường, đến cuộc sống của người lao động và cộng đồng xung quanh các KCN từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của một đất nước. Trên thế giới từ trước đến nay khi nền công nghiệp bắt đầu phát triển thịnh vượng từ các nước Bắc âu; Tây Âu, đến các nước có nền công nghiệp phát triển như Anh, Mỹ, Pháp… đều trải qua một thời kỳ khủng hoảng về môi trường do các ngành công nghiệp gây ra. Tại các nước Bắc Âu Ở các nước phát triển vào đầu thế kỷ XX, lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường không khí và môi trường nước tại cơ sở sản xuất là rất lớn. Bên cạnh đó, một lượng lớn các chất thải phát sinh từ nhà máy sản xuất ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm môi trường nặng nề.
Một ví dụ điển hình là khu công nghiệp ở miền Bắc nước Anh, nơi bụi phóng xạ của muội đã đặt một lớp phủ bóng tối trải lên toàn bộ cảnh quan khu vực (Growth Commission, 2007). Giống như Anh khu vực Ruhr ở Đức, một lượng lớn không mong muốn bụi phóng xạ từ các ngành công nghiệp thép đã gây ô nhiễm không khí nặng nề cho khu vực (Schepelmann P. Tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, tình huống tương tự xảy ra (Jonathan M. Những nỗ lực ở các nước OECD trong việc giảm thiểu ô nhiễm bắt đầu được thực hiện vào năm 1980 đến nay, và sự đền đáp cho cho những nỗ lực đó trở nên rõ ràng khi việc xả early- chất ô nhiễm được xác định đã được giảm đến một mức độ lớn kể từ đầu năm 1970 và nhiều vấn đề môi trường đã được giải quyết (European Commission, 2017).
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp thường đi kèm với sự gia tăng tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu thô. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm sản xuất công nghiệp ở nhiều quốc gia cho thấy tốc độ tăng trưởng công nghiệp có thể có lợi trong công tác bảo vệ môi trường và quản lý nghiên cứu và phát triển, do đó thúc đẩy công nghệ mới trong ngành công nghiệp để tiếp tục giảm thiểu rủi ro môi trường cần được phát huy. Công nghiệp phát triển sẽ cung cấp các điều kiện tài chính cần thiết, các khoản đầu tư lớn cho công cuộc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp cũng như đầu tư các thiết bị xử lý môi trường tại nguồn phát thải. Kết quả, tạo ra cho một sự phát triển công nghiệp bền vững tác động nhỏ tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và tăng cường tái chế chất thải (Vũ Thành Hưởng, 2009).
Tại các nước Đông Âu và các quốc gia đang phát triển Các ngành công nghiệp nặng chiếm ưu thế ở Đông Âu và thường tập trung vào một khu vực nhất định nơi có nguồn tài nguyên khoáng sản. Tuy m 8 nhiên cho đến nay những tác động môi trường của công nghiệp hóa ở các khu vực này rất ít quan tâm. Kết quả là, các nước Đông Âu đang đối mặt rất nghiêm trọng vấn đề ô nhiễm công nghiệp. Tuy nhiên sự thay đổi lớn trong cơ cấu xã hội trong thời gian qua đã dẫn đến trong những thay đổi trong cơ cấu công nghiệp.
Các ngành công nghiệp nặng và ô nhiễm môi trường tại các nước Đông Âu đã được giảm đáng kể trong thời gian qua (Vũ Thành Hưởng, 2009). Tại Tình hình ô nhiễm công nghiệp tại các quốc gia đang phát triển nghiêm trọng và phức tạp hơn trong các quốc gia phát triển nguyên nhân là do quá trình công nghiệp hóa ở các nước này là ít nâng cao (Kinda S. Nhiều nhà đầu tư ở các nước phát triển đã lựa chọn đầu tư phát triển doanh nghiệp tại các nước đang phát triển do chính sách ưu đãi của cơ quan quản lý nhà nước, do nguồn nguyên liệu cũng như lực lượng lao động rồi rào. bên cạnh lợi ích mà các nhà đầu tư mà các doanh nghiệp đem lại cho kinh tế của các nước đang phát triển thì vấn đề môi trường lại càng nghiêm trọng hơn nguyên nhân là do có nhiều doanh nghiệp tới đầu tư phát triển tuy nhiên công nghệ sản xuất lại chưa được đầu tư đồng bộ, chính sách ưu tiên thu hút đầu tư đã coi nhẹ vấn đề môi trường dẫn đến chất lượng môi trường ngày càng sụt giảm (Vũ Thành Hưởng, 2009).
Hiện trạng ô nhiễm môi trường của các KCN ở Việt Nam Tính đến cuối năm 2019, cả nước có 330 KCN được thànhlập với tổng diện tích đất tự nhiên đạt gần 97 nghìn ha, trong đó diện tích đất công nghiệp đã lấp đầy đạt khoảng 65,9 nghìn ha.Trong 330 KCN được thành lập, có 258 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 68,8 nghìn ha và 72 KCN đang xây dựng với tổng diện tích khoảng 28,1 nghìn ha.Tỷ lệ lấp đầy của các KCN đang hoạt động đạt 74,3% (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020). Đối với các khu kinh tế (KKT): Cả nước có 17 KKT ven biển đã được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước khoảng hơn 845 nghìn ha. Ngoài ra, KKT Ninh Cơ (tỉnh Nam Định) nằm trong quy hoạch phát triển các KKT nhưng chưa m 9 được thành lập.