Luận văn thạc sĩ đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn khu hệ lưỡng cư bò sát tại rừng đặc dụng cham chu tỉnh tuyên quang

Bài viết đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn lưỡng cư, bò sát tại rừng Cham Chu, Tuyên Quang, nhằm bảo vệ đa dạng sinh học.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Quản lý TNR

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

80
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2.2. Lịch sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát trong nước

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hiện trạng lưỡng cư và bò sát tại rừng Cham Chu

Hiện trạng lưỡng cưbò sát tại rừng Cham Chu, Tuyên Quang đang đối mặt với nhiều thách thức. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự suy giảm đa dạng sinh học do các hoạt động của con người như phá rừng, săn bắn trái phép, và khai thác lâm sản đã làm giảm đáng kể số lượng các loài. Rừng Cham Chu là một hệ sinh thái quan trọng, nhưng các tác động tiêu cực đã khiến nhiều loài lưỡng cư và bò sát đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Các loài quý hiếm như Ếch nhái, Rắn lục, và Ba ba đang bị đe dọa nghiêm trọng.

1.1. Đa dạng loài lưỡng cư và bò sát

Nghiên cứu đã thống kê được 167 loài lưỡng cư317 loài bò sát tại Việt Nam, trong đó rừng Cham Chu là nơi cư trú của nhiều loài đặc hữu. Tuy nhiên, sự suy giảm hệ sinh thái rừng đã làm mất đi môi trường sống tự nhiên của các loài này. Các loài như Ếch vàng SupatasRắn lục mắt đỏ được phát hiện tại khu vực này, nhưng số lượng đang giảm dần do mất sinh cảnh rừngsăn bắn trái phép.

1.2. Nguy cơ tuyệt chủng

Nhiều loài lưỡng cư và bò sát tại rừng Cham Chu đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do mất môi trường sống và khai thác quá mức. Các loài như Ba ba, Rắn lục, và Ếch nhái đang bị săn bắt để phục vụ nhu cầu thực phẩm và y học cổ truyền. Sự suy giảm này không chỉ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học mà còn đe dọa sự cân bằng của hệ sinh thái rừng.

II. Giải pháp bảo tồn lưỡng cư và bò sát

Để bảo tồn lưỡng cưbò sát tại rừng Cham Chu, cần áp dụng các giải pháp bảo tồn hiệu quả. Các biện pháp bao gồm tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên, hạn chế săn bắn trái phép, và phục hồi sinh cảnh rừng. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của đa dạng sinh học cũng là yếu tố quan trọng trong công tác bảo tồn.

2.1. Quản lý tài nguyên thiên nhiên

Cần tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên tại rừng Cham Chu bằng cách thiết lập các khu bảo tồn nghiêm ngặt và giám sát chặt chẽ các hoạt động khai thác. Việc áp dụng các chính sách bảo vệ môi trường và hạn chế phá rừng sẽ giúp duy trì hệ sinh thái rừng và bảo vệ các loài lưỡng cư, bò sát.

2.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng

Giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của đa dạng sinh học là yếu tố then chốt. Các chương trình giáo dục về bảo vệ môi trườngbảo tồn động vật hoang dã cần được triển khai rộng rãi. Sự tham gia của người dân địa phương trong các hoạt động bảo tồn sẽ góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực đến rừng Cham Chu.

III. Đánh giá hiện trạng và đề xuất

Nghiên cứu đã đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể để bảo tồn lưỡng cưbò sát tại rừng Cham Chu. Các giải pháp bao gồm phục hồi sinh cảnh rừng, tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên, và nâng cao nhận thức cộng đồng. Những nỗ lực này sẽ góp phần bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái rừng.

3.1. Phục hồi sinh cảnh rừng

Phục hồi sinh cảnh rừng là một trong những giải pháp quan trọng để bảo tồn các loài lưỡng cư và bò sát. Việc trồng lại rừng và bảo vệ các khu vực đã bị suy thoái sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các loài sinh sống và phát triển. Điều này cũng giúp duy trì hệ sinh thái rừng và bảo vệ đa dạng sinh học.

3.2. Tăng cường quản lý và giám sát

Tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên và giám sát chặt chẽ các hoạt động khai thác là yếu tố then chốt. Các biện pháp như thiết lập các khu bảo tồn, hạn chế săn bắn trái phép, và kiểm soát phá rừng sẽ giúp bảo vệ các loài lưỡng cư và bò sát tại rừng Cham Chu.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn khu hệ lưỡng cư bò sát tại rừng đặc dụng cham chu tỉnh tuyên quang

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho các công trình nghiên cứu khoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ 19. Những nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát tiếp theo ở Bắc Bộ có J.Anderson (1878), ở Nam Bộ có J. Boulenger (1890), Flower (1896), Boettger (1901) là người đầu tiên đề cập tới lưỡng cư, bò sát vùng Bắc Trung Bộ trong tài liệu “Aufzahlung Einer Liste Von Reptilen and Batrachien Annam”. Tuy nhiên các nghiên cứu ở thời kỳ này được các tác giả nước ngoài tiến hành chủ yếu điều tra khu hệ lưỡng cư, bò sát, xây dựng danh lục lưỡng cư, bò sát các vùng: Tirant (1985), Boulenger (1903), Smith (1921,1923,1924).

Những công trình của Bourret R. và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 đã thống kê, mô tả được 177 loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên toàn Đông Dương, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam (Bourret R. Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu Bourret R. có nói nhiều đến lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ, ông đã công bố và bổ sung danh lục cho nhiều loài lưỡng cư, bò sát (Bourret R.

Từ năm 1954, nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát Việt Nam được tiến hành ở Miền Bắc. Năm 1960, Đào Văn Tiến [7], nghiên cứu khu hệ động vật có xương sống ở Vĩnh Linh (Quảng Trị) đã thống kê được nhóm lưỡng cư, bò sát có 12 e 7 loài. Lớp ếch nhái có 1 họ Ranidae với 1 loài, lớp bò sát có 6 họ: Họ Gekkonidae 2 loài, họ Agamidae 3 loài, họ Colubridae 2 loài, họ Viperidae 2 loài, họ Typhlopidae 1 loài và họ Emididae 1 loài. Tác giả đã bổ sung cho vùng nghiên cứu 3 loài và mô tả 1 loài mới.

Năm 1977, nghiên cứu xây dựng các đặc điểm định loại, khoá định loại lưỡng cư Việt Nam và công bố 87 loài lưỡng cư thuộc 3 bộ 12 họ [15]. Năm 1979, nghiên cứu xây dựng khoá định loại Thằn lằn Việt Nam và thống kê 77 loài Thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam [16]. Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) [4], nghiên cứu lưỡng cư, bò sát từ năm 1956 - 1975 trên toàn Miền Bắc thống kê được 159 loài bò sát thuộc 2 bộ, 19 họ và 69 loài lưỡng cư thuộc 3 bộ, 9 họ. Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1985) [5], báo cáo điều tra thống kê khu hệ bò sát, ếch nhái Việt Nam gồm 160 loài bò sát và 90 loài lưỡng cư.

Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lí, phân bố theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài. Những năm 1980 đến nay các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc thống kê và vẽ bản đồ phân bố các loài lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam. Kết quả từ năm 1980 đến 2006 đã phát hiện 3 giống mới, 79 loài mới và 3 phân loài mới cho khoa học (39 loài lưỡng cư, 43 loài bò sát). Ngoài ra, có ít nhất 90 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam trong giai đoạn này.

Kết quả nghiên cứu cho thấy các khu vực núi cao của Việt Nam chứa đựng sự đa dạng về thành phần loài lưỡng cư và bò sát. Một số địa điểm quan trọng đối với khu hệ lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam gồm: Dãy Hoàng Liên Sơn (Phan-xi-păng) ở khu vực Tây Bắc, dãy Bắc Sơn và Yên Tử ở khu vực Đông Bắc, dải Trường Sơn và khu vực Tây Nguyên ở miền Trung và vùng lưu vực sông Cửu Long ở Miền Nam. Các khu vực này hiện còn tồn tại một diện tích khá lớn các khoảnh rừng tự nhiên và cần tiếp tục được nghiên cứu. Sự ĐDSH mới này xuất phát từ việc nhận biết các loài mới thông qua những phân tích về hình thái và di truyền của các loài riêng biệt (các loài chưa rõ nguồn gốc) mà trước đây được coi là các quần thể chưa phân hóa của một loài duy nhất có phân bố rộng.

Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra sự phong phú tiềm ẩn trong những nhóm loài của Ếch e 8 xanh (Rana livida), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) và Rùa dứa (Cyclemys dentata). Nguồn thứ hai làm tăng nhanh số lượng loài có trong nước là những loài trước kia chưa được tìm thấy tại Việt Nam như Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) là loài chuyên sống trên địa hình núi đá vôi được tìm thấy ở vùng Đông Bắc của Việt Nam vào năm 2003 và trước đây chỉ biết đến ở tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc [19,3]. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) [12], công bố danh lục lưỡng cư, bò sát Việt Nam gồm 256 loài bò sát và 82 loài lưỡng cư (chưa kể 14 loài bò sát và 5 loài ếch nhái chưa xếp vào danh lục). Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005) [14], công bố danh lục lưỡng cư, bò sát Việt Nam gồm 162 loài lưỡng cư và 296 loài bò sát.

Trong những năm qua có nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát ở những địa phương, đặc biệt chú ý đến các VQG, Khu BTTN và khu rừng đặc dụng. Khu vực Bắc Trung Bộ - Bắc Trường Sơn đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Từ năm 1980 đến năm 2006 đã có 23 loài mới được mô tả dựa trên mẫu chuẩn thu được ở khu vực này, trong đó có 8 loài lưỡng cư, 7 loài thằn lằn, 5 loài rắn, 3 loài rùa. Tất cả những loài mới thuộc nhóm lưỡng cư, bò sát này cho đến nay mới chỉ được biết ở một vài địa điểm [19].

Hoàng Xuân Quang (1993) [7], điều tra thống kê danh lục lưỡng cư, bò sát ở các tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 94 loài bò sát của 59 giống 17 họ và 34 loài lưỡng cư của 14 giống 7 họ. Tác giả đã bổ sung thêm cho danh lục lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung thêm cho vùng phân bố 9 loài. Bên cạnh đó tác giả còn phân tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh và quan hệ với các khu phân bố lưỡng cư, bò sát trong nước. Năm 1998, tác giả đã bổ sung thêm 12 loài cho khu hệ lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ, trong đó có 1 giống, 1 loài cho khu hệ lưỡng cư, bò sát Việt Nam [8].

Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng (1999) [9], nghiên cứu về khu phân bố lưỡng cư, bò sát ở Nam Đông - Bạch Mã - Hải Vân xác định có 23 loài lưỡng cư thuộc 9 giống, 5 họ, 1 bộ và 41 loài bò sát thuộc 31 giống, 12 họ, 2 bộ. e 9 Hoàng Xuân Quang, Mai Văn Quế (2000) [10], nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát khu vực Chúc A (Hương Khê - Hà Tĩnh) công bố 53 loài thuộc 40 giống, 18 họ, trong đó có 18 loài lưỡng cư và 35 loài bò sát. Mức độ đa dạng về số loài lưỡng cư, bò sát ở Chúc A không thua kém các vùng khác. Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Xuân Quang (2000) [13], nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát VQG Bến En đã thống kê được 54 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và 31 loài lưỡng cư thuộc 6 họ.

Nguyễn Nghĩa Thìn, Lê Vũ Khôi, Nguyễn Xuân Quỳnh, Nguyễn Văn Quảng, Ngô Sỹ Vân, Đặng Thị Đáp (2004) [18], đánh giá tính ĐDSH VQG Phong Nha Kẻ Bàng đã thống kê được 60 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và 22 loài lưỡng cư thuộc 6 họ. Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Hồ Anh Tuấn, Cao Tiến Trung, Nguyễn Văn Quế (2007) [11], công bố kết quả điều tra nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã. Kết quả điều tra nghiên cứu từ năm 1996 - 2006, đã xác định thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã có 93 loài thuộc 19 họ của 3 bộ, trong đó lưỡng cư có 37 loài thuộc 5 họ của Bộ không đuôi – Anura, bò sát có 56 loài thuộc 14 họ của 2 bộ. Kết quả này đã bổ sung cho VQG Bạch Mã 3 họ (họ Thằn lằn rắn Anguidae, họ Rùa đầu to Platysternidae, họ Rùa núi Testudinidae), 39 loài (14 loài lưỡng cư, 25 loài bò sát).

Năm 2013 là năm khá thành công đối với các nhà nghiên cứu động vật học của Việt Nam và quốc tế với 15 loài bò sát và ếch nhái mới cho khoa học được phát hiện ở nước ta. Các công trình công bố về những khám phá mới này trên các tạp chí khoa học quốc tế không chỉ khẳng định tiềm năng đa dạng sinh học cao của Việt Nam mà còn chứng minh nỗ lực nghiên cứu, hợp tác có hiệu quả của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài. Trong năm 2013, phát hiện 5 loài ếch nhái và 10 loài bò sát mới cho khoa học được các nhà nghiên cứu công bố dựa trên các tư liệu khoa học thu thập được trong các chuyến khảo sát ở Việt Nam hay tham khảo mẫu vật đang lưu giữ ở các bảo tàng động vật. Loài mới được phát hiện ngay trong vườn nhà ở vùng đồng bằng hay trong các khu rừng nhiệt đới ở vùng núi cao.

Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính thức nhưng số loài bò sát và ếch nhái mới được phát hiện ở e 10 Việt Nam trong 5 năm gần đây có thể xếp ở vị trí đầu bảng trong các nước ở khu vực Đông Nam Á. Các công trình công bố về những phát hiện mới liên tục được xuất bản chứng tỏ hiệu quả hợp tác trong nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực khám phá đa dạng sinh học ở các nước nhiệt đới, nơi có tiềm năng đa dạng sinh học rất cao nhưng cũng đang chịu nhiều áp lực do tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu [20]. Năm 2010, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu cùng các chuyên gia tư vấn về động thực vật rừng của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã triển khai hoạt động điều tra nhanh hiện trạng đa dạng sinh học nhằm xác định lại hiện trạng phân bố của các loài quan trọng, trên cơ sở đó đề xuất được những hoạt động cần thiết để quản lý, bảo tồn các loài có nguy cơ tuyệt chủng cao. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã xác định 11 loài bò sát, trong đó có 4 loài nằm trong danh lục đỏ của IUCN (từ cấp VU trở lên) [1].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá hiện trạng và giải pháp bảo tồn lưỡng cư bò sát tại rừng Cham Chu, Tuyên Quang" cung cấp cái nhìn toàn diện về tình trạng hiện tại của các loài lưỡng cư và bò sát trong khu vực rừng Cham Chu, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả. Nội dung tập trung vào việc phân tích đa dạng sinh học, các mối đe dọa chính như mất môi trường sống và biến đổi khí hậu, cũng như các chiến lược bảo tồn bền vững. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà nghiên cứu, sinh viên và những người quan tâm đến bảo tồn thiên nhiên, giúp họ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ các loài động vật hoang dã.

Để mở rộng kiến thức về đa dạng sinh học và bảo tồn, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học trên kênh VTV2, Luận văn đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật rừng ngập mặn, và Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sự thay đổi nhân tố sinh thái theo độ cao. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của bảo tồn và đa dạng sinh học.