mở đầu cho các công trình nghiên cứu khoa học về nhóm động vật này ở nước ta vào thế kỷ 19. Những nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát tiếp theo ở Bắc Bộ có J.Anderson (1878), ở Nam Bộ có J. Boulenger (1890), Flower (1896), Boettger (1901) là người đầu tiên đề cập tới lưỡng cư, bò sát vùng Bắc Trung Bộ trong tài liệu “Aufzahlung Einer Liste Von Reptilen and Batrachien Annam”. Tuy nhiên các nghiên cứu ở thời kỳ này được các tác giả nước ngoài tiến hành chủ yếu điều tra khu hệ lưỡng cư, bò sát, xây dựng danh lục lưỡng cư, bò sát các vùng: Tirant (1985), Boulenger (1903), Smith (1921,1923,1924).
Những công trình của Bourret R. và các cộng sự trong khoảng thời gian từ 1924 đến 1944 đã thống kê, mô tả được 177 loài và loài phụ Thằn lằn, 245 loài và loài phụ Rắn, 44 loài và loài phụ Rùa trên toàn Đông Dương, trong đó có nhiều loài của miền Bắc Việt Nam (Bourret R. Đáng chú ý là những công trình nghiên cứu Bourret R. có nói nhiều đến lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ, ông đã công bố và bổ sung danh lục cho nhiều loài lưỡng cư, bò sát (Bourret R.
Từ năm 1954, nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát Việt Nam được tiến hành ở Miền Bắc. Năm 1960, Đào Văn Tiến [7], nghiên cứu khu hệ động vật có xương sống ở Vĩnh Linh (Quảng Trị) đã thống kê được nhóm lưỡng cư, bò sát có 12 e 7 loài. Lớp ếch nhái có 1 họ Ranidae với 1 loài, lớp bò sát có 6 họ: Họ Gekkonidae 2 loài, họ Agamidae 3 loài, họ Colubridae 2 loài, họ Viperidae 2 loài, họ Typhlopidae 1 loài và họ Emididae 1 loài. Tác giả đã bổ sung cho vùng nghiên cứu 3 loài và mô tả 1 loài mới.
Năm 1977, nghiên cứu xây dựng các đặc điểm định loại, khoá định loại lưỡng cư Việt Nam và công bố 87 loài lưỡng cư thuộc 3 bộ 12 họ [15]. Năm 1979, nghiên cứu xây dựng khoá định loại Thằn lằn Việt Nam và thống kê 77 loài Thằn lằn trong đó có 6 loài lần đầu tiên phát hiện ở Việt Nam [16]. Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1981) [4], nghiên cứu lưỡng cư, bò sát từ năm 1956 - 1975 trên toàn Miền Bắc thống kê được 159 loài bò sát thuộc 2 bộ, 19 họ và 69 loài lưỡng cư thuộc 3 bộ, 9 họ. Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1985) [5], báo cáo điều tra thống kê khu hệ bò sát, ếch nhái Việt Nam gồm 160 loài bò sát và 90 loài lưỡng cư.
Các tác giả còn phân tích sự phân bố địa lí, phân bố theo sinh cảnh và ý nghĩa kinh tế của các loài. Những năm 1980 đến nay các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc thống kê và vẽ bản đồ phân bố các loài lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam. Kết quả từ năm 1980 đến 2006 đã phát hiện 3 giống mới, 79 loài mới và 3 phân loài mới cho khoa học (39 loài lưỡng cư, 43 loài bò sát). Ngoài ra, có ít nhất 90 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam trong giai đoạn này.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các khu vực núi cao của Việt Nam chứa đựng sự đa dạng về thành phần loài lưỡng cư và bò sát. Một số địa điểm quan trọng đối với khu hệ lưỡng cư, bò sát ở Việt Nam gồm: Dãy Hoàng Liên Sơn (Phan-xi-păng) ở khu vực Tây Bắc, dãy Bắc Sơn và Yên Tử ở khu vực Đông Bắc, dải Trường Sơn và khu vực Tây Nguyên ở miền Trung và vùng lưu vực sông Cửu Long ở Miền Nam. Các khu vực này hiện còn tồn tại một diện tích khá lớn các khoảnh rừng tự nhiên và cần tiếp tục được nghiên cứu. Sự ĐDSH mới này xuất phát từ việc nhận biết các loài mới thông qua những phân tích về hình thái và di truyền của các loài riêng biệt (các loài chưa rõ nguồn gốc) mà trước đây được coi là các quần thể chưa phân hóa của một loài duy nhất có phân bố rộng.
Các nhà nghiên cứu đã khám phá ra sự phong phú tiềm ẩn trong những nhóm loài của Ếch e 8 xanh (Rana livida), Rùa hộp trán vàng (Cuora galbinifrons) và Rùa dứa (Cyclemys dentata). Nguồn thứ hai làm tăng nhanh số lượng loài có trong nước là những loài trước kia chưa được tìm thấy tại Việt Nam như Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) là loài chuyên sống trên địa hình núi đá vôi được tìm thấy ở vùng Đông Bắc của Việt Nam vào năm 2003 và trước đây chỉ biết đến ở tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc [19,3]. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996) [12], công bố danh lục lưỡng cư, bò sát Việt Nam gồm 256 loài bò sát và 82 loài lưỡng cư (chưa kể 14 loài bò sát và 5 loài ếch nhái chưa xếp vào danh lục). Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005) [14], công bố danh lục lưỡng cư, bò sát Việt Nam gồm 162 loài lưỡng cư và 296 loài bò sát.
Trong những năm qua có nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đã tiến hành nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát ở những địa phương, đặc biệt chú ý đến các VQG, Khu BTTN và khu rừng đặc dụng. Khu vực Bắc Trung Bộ - Bắc Trường Sơn đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Từ năm 1980 đến năm 2006 đã có 23 loài mới được mô tả dựa trên mẫu chuẩn thu được ở khu vực này, trong đó có 8 loài lưỡng cư, 7 loài thằn lằn, 5 loài rắn, 3 loài rùa. Tất cả những loài mới thuộc nhóm lưỡng cư, bò sát này cho đến nay mới chỉ được biết ở một vài địa điểm [19].
Hoàng Xuân Quang (1993) [7], điều tra thống kê danh lục lưỡng cư, bò sát ở các tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 94 loài bò sát của 59 giống 17 họ và 34 loài lưỡng cư của 14 giống 7 họ. Tác giả đã bổ sung thêm cho danh lục lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ 23 loài, phát hiện bổ sung thêm cho vùng phân bố 9 loài. Bên cạnh đó tác giả còn phân tích sự phân bố các loài theo sinh cảnh và quan hệ với các khu phân bố lưỡng cư, bò sát trong nước. Năm 1998, tác giả đã bổ sung thêm 12 loài cho khu hệ lưỡng cư, bò sát Bắc Trung Bộ, trong đó có 1 giống, 1 loài cho khu hệ lưỡng cư, bò sát Việt Nam [8].
Hoàng Xuân Quang, Ngô Đắc Chứng (1999) [9], nghiên cứu về khu phân bố lưỡng cư, bò sát ở Nam Đông - Bạch Mã - Hải Vân xác định có 23 loài lưỡng cư thuộc 9 giống, 5 họ, 1 bộ và 41 loài bò sát thuộc 31 giống, 12 họ, 2 bộ. e 9 Hoàng Xuân Quang, Mai Văn Quế (2000) [10], nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát khu vực Chúc A (Hương Khê - Hà Tĩnh) công bố 53 loài thuộc 40 giống, 18 họ, trong đó có 18 loài lưỡng cư và 35 loài bò sát. Mức độ đa dạng về số loài lưỡng cư, bò sát ở Chúc A không thua kém các vùng khác. Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Xuân Quang (2000) [13], nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát VQG Bến En đã thống kê được 54 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và 31 loài lưỡng cư thuộc 6 họ.
Nguyễn Nghĩa Thìn, Lê Vũ Khôi, Nguyễn Xuân Quỳnh, Nguyễn Văn Quảng, Ngô Sỹ Vân, Đặng Thị Đáp (2004) [18], đánh giá tính ĐDSH VQG Phong Nha Kẻ Bàng đã thống kê được 60 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ và 22 loài lưỡng cư thuộc 6 họ. Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Hồ Anh Tuấn, Cao Tiến Trung, Nguyễn Văn Quế (2007) [11], công bố kết quả điều tra nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã. Kết quả điều tra nghiên cứu từ năm 1996 - 2006, đã xác định thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã có 93 loài thuộc 19 họ của 3 bộ, trong đó lưỡng cư có 37 loài thuộc 5 họ của Bộ không đuôi – Anura, bò sát có 56 loài thuộc 14 họ của 2 bộ. Kết quả này đã bổ sung cho VQG Bạch Mã 3 họ (họ Thằn lằn rắn Anguidae, họ Rùa đầu to Platysternidae, họ Rùa núi Testudinidae), 39 loài (14 loài lưỡng cư, 25 loài bò sát).
Năm 2013 là năm khá thành công đối với các nhà nghiên cứu động vật học của Việt Nam và quốc tế với 15 loài bò sát và ếch nhái mới cho khoa học được phát hiện ở nước ta. Các công trình công bố về những khám phá mới này trên các tạp chí khoa học quốc tế không chỉ khẳng định tiềm năng đa dạng sinh học cao của Việt Nam mà còn chứng minh nỗ lực nghiên cứu, hợp tác có hiệu quả của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài. Trong năm 2013, phát hiện 5 loài ếch nhái và 10 loài bò sát mới cho khoa học được các nhà nghiên cứu công bố dựa trên các tư liệu khoa học thu thập được trong các chuyến khảo sát ở Việt Nam hay tham khảo mẫu vật đang lưu giữ ở các bảo tàng động vật. Loài mới được phát hiện ngay trong vườn nhà ở vùng đồng bằng hay trong các khu rừng nhiệt đới ở vùng núi cao.
Mặc dù chưa có số liệu thống kê chính thức nhưng số loài bò sát và ếch nhái mới được phát hiện ở e 10 Việt Nam trong 5 năm gần đây có thể xếp ở vị trí đầu bảng trong các nước ở khu vực Đông Nam Á. Các công trình công bố về những phát hiện mới liên tục được xuất bản chứng tỏ hiệu quả hợp tác trong nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và thế giới trong lĩnh vực khám phá đa dạng sinh học ở các nước nhiệt đới, nơi có tiềm năng đa dạng sinh học rất cao nhưng cũng đang chịu nhiều áp lực do tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu [20]. Năm 2010, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu cùng các chuyên gia tư vấn về động thực vật rừng của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật và trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã triển khai hoạt động điều tra nhanh hiện trạng đa dạng sinh học nhằm xác định lại hiện trạng phân bố của các loài quan trọng, trên cơ sở đó đề xuất được những hoạt động cần thiết để quản lý, bảo tồn các loài có nguy cơ tuyệt chủng cao. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã xác định 11 loài bò sát, trong đó có 4 loài nằm trong danh lục đỏ của IUCN (từ cấp VU trở lên) [1].