CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Định nghĩa chung về rừng ngập mặn 1.
Rừng ngập mặn Hiện nay trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về rừng ngập mặn (RNM); tuy nhiên, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau thì RNM được hiểu theo mỗi cách khác nhau. RNM là một trong những loại hình đất ngập nước (wetlands) quan trọng nhất (IUCN, 1990) nằm ở đầu bảng phân loại đất ngập nước của RAMSAR. RNM (mangrove forest) là thuật ngữ mô tả một vùng thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới hình thành trên nền các thực vật vùng triều với tổ hợp động, thực vật đặc trưng. Trong hệ sinh thái này động vật, thực vật và vi sinh vật trong đất và môi trường tự nhiên được liên kết với nhau thông qua quá trình trao đổi và đồng hoá năng lượng.
Các quá trình nội tại như cố định năng lượng, tích luỹ sinh khối, phân huỷ vật chất hữu cơ và chu trình dinh dưỡng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các nhân tố bên ngoài gồm cung cấp nước, thuỷ triều, nhiệt độ và lượng mưa. Thuật ngữ “Thực vật ngập mặn” được nêu lên từ những năm 1613 và nó thường được hiểu như là từ ghép giữa tiếng Bồ Đào Nha là “mangue - ngập mặn” và một từ tiếng Anh là “grove - khu rừng nhỏ”. RNM là rừng của các loài cây nhiệt đới và cây bụi có rễ mọc từ các trầm tích nước mặn nằm giữa khu vực giữa bờ biển và biển. RNM là một loại hình phát triển dọc theo các bãi bùn thủy triều và dọc theo các vùng nước nông ven biển, mở rộng vào vùng nội địa dọc theo sông, suối và các nhánh sông nơi có nguồn nước lợ (Melana, 2000).
Theo nghĩa rộng RNM có thể được định nghĩa như là những loài thực vật cây gỗ xuất hiện tại môi trường nước lợ và vùng ven biển. Chúng bị giới hạn bởi vùng thủy triều - đó là vùng ven biển bắt đầu từ mức nước thấp nhất đến mực nước cao nhất. Với một vài ngoại lệ, chúng chỉ xuất hiện tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, và tương đương gần vùng ôn đới là thân cỏ và đầm lầy ngập mặn (FAO, 2007). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 RNM là một loại rừng đặc biệt ở vùng cửa sông, ven biển của các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển tốt trên các bãi bùn lầy ngập nước biển, nước lợ có thủy triều lên xuống hằng ngày. Đa dạng sinh học Ngày nay nghiên cứu về đa dạng sinh học được thế giới rất quan tâm, những quan niệm về đa dạng sinh học đã đi đến một nhận thức chung được nêu trong Công ước về Bảo tồn đa dạng sinh học đã thông qua Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu ở Rio de Janeiro năm 1992 như sau: “Đa dạng sinh học là sự phong phú và tính muôn màu muôn vẻ của thế giới sinh vật ở tất cả mọi nơi trên đất liền và trên biển. Sự đa dạng đó được thể hiện trong từng loài, giữa các loài và hệ sinh thái”. Thuật ngữ đa dạng sinh học (Biodiversity) dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên.
Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong hệ sinh thái đất liền, dưới biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên. Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái); bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần của cơ thể, các quần thể hay các hợp phần sinh học khác của hệ sinh thái, hiện đang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người. Thuật ngữ Đa dạng sinh học được dùng lần đầu tiên vào năm 1988 và sau khi Công ước Đa dạng sinh học được ký kết (1993) đã được dùng phổ biến trên thế giới. Theo Từ điển Đa dạng sinh học và phát triển bền vững của Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường (2001): “Đa dạng sinh học là thuật ngữ dùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên.
Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các hệ sinh thái trên đất liền, dưới biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên”. Nhìn chung đa dạng sinh học ở vùng ven biển rất phong phú và đa dạng. Tính đa dạng này phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường tự nhiên như nhiệt độ, chế độ nước, môi trường đất. Đối với vùng đất cao, ít ngập triều và không có nước ngọt, đất dễ nhiễm mặn và khô hạn thì đa dạng sinh học nghèo nàn.
Đối với vùng ngập nước và bán ngập triều hay còn gọi là đất ngập nước, thì đa dạng sinh học phong phú hơn nhiều. Vai trò của rừng ngập mặn đối với bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế a. Vai trò của rừng ngập mặn đối với phát triển kinh tế Hệ sinh thái RNM đóng vai trò to lớn trong việc bảo vệ, phát triển tài nguyên và môi trường cửa sông, ven biển phục vụ cho kinh tế - xã hội và cộng đồng thể hiện qua các chức năng và dịch vụ như: Cung cấp O2 và hấp thụ CO2 cải thiện điều kiện khí hậu PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 khu vực như các loại rừng khác; Tích luỹ cacbon; Cung cấp thức ăn, nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng con non và là vườn ươm cho các loài thủy sản ven biển, nơi ở cho các loài chim di cư; Góp phần giảm thiểu tác hại của gió, bão, nước biển dâng và sóng thần; Làm tăng lượng bồi tụ trầm tích, mở rộng đất đai bờ cõi; Lọc nước và hấp thụ các chất độc hại, ô nhiễm vùng cửa sông ven biển; Lưu giữ nguồn gen; Cung cấp phương tiện thông tin cho nghiên cứu, giáo dục và đào tạo, giữ gìn bản sắc văn hoá và tín ngưỡng; Du lịch và các dịch vụ khác. - Cung cấp các sản phẩm lâm nghiệp: Công dụng của các loài thực vật rất đa dạng.
Tỷ lệ các loài được sử dụng so với tổng số loài rất lớn. Đã từ lâu các loài thực vật này cung cấp cho các vùng ven biển những nhu cầu cấp thiết hàng ngày như gỗ xây dựng, lá lợp nhà, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, chất đốt, thức ăn gia súc. Ở Việt Nam, trong các loài cây ngập mặn đã được thống kê có một số loài có thể xếp vào các nhóm công dụng chủ yếu sau (Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản, 1984, 1997): 30 loài cây cho gỗ, than, củi; 14 loài cây cho tannin; 24 loài cây làm phân xanh, cải tạo đất hoặc giữ đất; 21 loài cây dùng làm thuốc; 9 loài cây chủ thả cánh kiến đỏ; 21 loài cây cho mật nuôi ong; 1 loài cho nhựa để sản xuất nước giải khát, đường, cồn. Ngoài ra còn một số loài cây sử dụng cho công nghiệp như làm nút chai, cốt mũ, cho sợi.
Cũng còn một số công dụng chưa được chú ý như làm giấy, ván ép. Các loại gỗ của RNM thích hợp với nhiều công dụng: phần lớn được dùng làm cột kèo, xẻ ván làm sàn nhà, đóng các đồ dùng thông thường của địa phương. Ở nhiều nước cũng dùng làm gỗ tà vẹt, chống lò. Than Đước, Vẹt được ưa chuộng, phần lớn than đều ít khói, nhiệt lượng cao: 1kg than đước cho 6.675 kcal và than Vẹt là 6.
Than Đước còn được dùng trong kĩ nghệ luyện kim. Loại than cốc vàng được dùng để chạy máy tàu trong thời đại chiến thế giới thứ II. Một sản phẩm quan trọng khác của rừng là Tanin. So với các loài thực vật khác lượng Tanin của vỏ nhiều cây ngập mặn khá cao và chất lượng tốt.
Tỉ lệ Tanin ở các loài biến động từ 4,6-35,5%. Tanin được dùng trong công nghệ thuộc da, nhuộm vải sợi, nhuộm lưới đánh cá, làm keo dán, trong công nghệ dược phẩm, kỹ nghệ in… Tùy từng vùng mà khai thác các loại vỏ khác nhau. Các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng chủ yếu khai thác các loại vỏ Vẹt, Trang, Sú còn ở Nam Bộ khai thác vỏ Đước, Dà (Nguyễn Hoàng Trí, 1986). Vỏ của một số loài cây có khả năng phục hồi rất nhanh, nên có thể bóc vỏ lâu dài, khoảng cách giữa hai lần bóc vỏ là 5 năm.
Ngoài những cây chủ yếu cung cấp gỗ, than, củi, tannin, còn phải kể đến Dừa nước. Giá trị của Dừa PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 nước từ bao đời nay người dân vùng ven biển, cửa sông đã biết dùng lá dừa nước để lợp nhà, làm vách, các dụng cụ trong gia đình như chổi, gàu múc nước, giỏ, túi xách… - Tài nguyên động vật: RNM là nơi sống và sinh sản của nhiều loài động vật có giá trị kinh tế và môi trường. Trước hết phải kể đến các loài như hải sản tôm, cua, cá, sò, vạng… Các loài động vật này tập trung nhiều xung quanh gốc cây ngập mặn. RNM đã cung cấp thức ăn, bãi đẻ và nơi sinh sống của chúng.
Lá và các bộ phận khác của cây rụng xuống được vi sinh vật phân huỷ là nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều động vật vùng triều. Mặt khác, hệ thống rễ cây chằng chịt đã giữ phù sa, tán lá cây che bớt nắng tạo môi trường nuôi dưỡng cho nhiều loài hải sản có giá trị như tôm, cua, sò, hến… Vì vậy, RNM là môi trường rất thuận lợi để nuôi tôm, cua, cá và các loài động vật nước lợ khác. Tuy nhiên, nuôi trồng hải sản cần chú ý chỉ sử dụng một phần diện tích phù hợp, khoảng 20-30% diện tích rừng và phải ứng dụng các kỹ thuật làm đầm, nuôi trồng thích hợp để bảo vệ môi trường, hạn chế việc gây ô nhiễm, tránh dịch bệnh cho vật nuôi thì mới có hiệu quả kinh tế cao và nuôi trồng được lâu dài. Hơn nữa, nghề đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản phụ thuộc rất nhiều vào RNM.
Mất rừng thì môi trường ven biển biến đổi và nguồn hải sản cũng mất dần. Bên cạnh đó RNM còn là nơi thu hút nhiều loài chim nước và chim di cư tạo thành các sân chim lớn với hàng vạn chim non và dơi quạ trong mùa sinh sản. Ở tỉnh Cà Mau có 10 sân chim, dơi quạ trong đó sân chim lớn nhất là Tân Khánh rộng 130 ha, đây được xem là sân chim lớn nhất Đông Nam Á.