CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tình hình chung về sản xuất rau trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất rau trên thế giới Rau xanh là loại thực phẩm thiết yếu trong cuộc sống của con người, cung cấp phần lớn khoáng chất và vitamin, góp phần cân bằng dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày. Rau là cây trồng có giá trị kinh tế cao, là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới.
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới trồng rau với diện tích lớn, tại các nước phát triển tỷ lệ cây rau/cây lương thực là 2/1, còn ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 1/2. Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thế giới giai đoạn 1980 - 2010 TT Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (nghìn tấn) 1 1980 8.177,29 (Nguồn: FAO statistic, 2011) [12] Số liệu bảng 1.1 cho thấy, diện tích rau trên thế giới không ngừng tăng. Năm 1980 toàn thế giới trồng được 8.430 ha (trung bình 1 năm tăng 233. Năm 2000 diện tích rau của thế giới đạt 14.270 ha (trung bình 1 năm tăng 416.750 ha so với năm 2000 (trung bình 1 năm tăng 350.020 ha so với năm 1990 và tăng 10.450 ha so với năm 1980.
Năng suất rau của thế giới không ổn định qua các năm. Năm 1980 năng suất rau chỉ đạt 106,11 tạ/ha; năm 1990 là 134,89 tạ/ha, tăng 28,78 tạ/ha. Năm 2000 có năng suất rau cao nhất, đạt 146,84 tạ/ha, tăng 11,95 tạ/ha so với năm 1990 và n 5 40,70tạ/ha so với năm 1980. Sau năm 2000 năng suất rau có xu hướng giảm dần, tuy mức độ không nhiều nhưng cũng là con số đáng lo ngại cho ngành trồng rau.
Năm 2010 năng suất rau trên thế giới chỉ đạt 132,88 tạ/ha, giảm 13,96 tạ/ha so với năm 2000 và giảm 2,01 tạ/ha so với năm 1990. Sản lượng rau của thế giới đạt cao nhất vào năm 2008 là 249.020 tấn so với năm 2000; tăng 109.500 tấn so với năm 1990 và 164.960 tấn so với năm 1980. Năm 2010 sản lượng rau chỉ còn 240.910 tấn so với năm 2008. Diện tích, năng suất, sản lượng rau của các châu lục năm 2010 TT Vùng, châu lục Diện tích Năng suất Sản lượng (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 1 Châu Á 14.584,47 5 Châu Đại Dương 32,97 167,16 551,13 6 Vùng Đông Nam Á 1.615,18 (Nguồn: FAO statistic, 2011) [12] Tình hình sản xuất rau của các châu lục biến động khá lớn.
Châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất thế giới. Năm 2010 toàn châu lục trồng được 14.820 ha, chiếm 78,07% diện tích rau của thế giới. Châu Phi có diện tích trồng rau lớn thứ hai, đạt 2.520 ha, bằng 19,47% diện tích rau của châu Á. Châu Đại Dương có diện tích trồng rau thấp nhất thế giới, chỉ có 32.970 ha, bằng 0,23% diện tích rau của châu Á.
Mặc dù, châu Á có diện tích trồng rau lớn nhất thế giới nhưng năng suất rau chỉ đứng hàng thứ ba trong các châu lục. Năm 2010 năng suất rau của châu Á đạt 145,54 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình của thế giới là 12,66 tạ/ha. Châu Âu có năng suất rau cao nhất thế giới, đạt 168,03 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình của thế giới là 35,15 tạ/ha và cao hơn năng suất rau của châu Á là 22,49 tạ/ha. Châu Phi có năng suất rau thấp nhất thế giới, chỉ đạt 61,39 tạ/ha, bằng 46,2% năng suất rau của thế giới và bằng 42,18% năng suất rau của châu Á.
n 6 Do có diện tích trồng rau lớn nên sản lượng rau của châu Á cao nhất đạt 205.870 tấn, chiếm 85,51% sản lượng rau của thế giới. Châu Phi có sản lượng rau đứng thứ hai đạt 16.030 tấn, chiếm 7,02% sản lượng rau của thế giới và bằng 8,21% sản lượng rau của châu Á. Châu Đại Dương mặc dù có năng suất rau cao thứ hai thế giới nhưng do diện tích gieo trồng ít nên sản lượng thấp nhất, chỉ bằng 0,23% sản lượng rau của thế giới và bằng 0,27% sản lượng rau của châu Á. Vùng Đông Nam Á có diện tích trồng rau khá lớn, năm 2010 toàn vùng trồng được 1.370 ha, bằng 12,84% diện tích rau của châu Á và bằng 10,03% diện tích rau của thế giới.
Năng suất rau của vùng cũng xấp xỉ năng suất bình quân của thế giới, đạt 130,3 tạ/ha; sản lượng đạt 23.180 tấn, chiếm 11,5% sản lượng rau của châu Á và chiếm 9,83% sản lượng rau của thế giới. Ở các nước phát triển, công nghệ sản xuất rau được hoàn thiện ở trình độ cao. Sản xuất rau an toàn trong nhà kính, nhà lưới, trong dung dịch đã trở nên quen thuộc. Điển hình, ở Đức có hàng ngàn cửa hàng bán “rau xanh sinh thái” và “trái cây sinh thái” để phục vụ nhu cầu rau quả cho người tiêu dùng.
Một số nước như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông đã phát triển mạnh trong công nghệ sản xuất rau an toàn, để phục vụ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Tình hình sản xuất rau tại Việt Nam Việt nam trải dài trên 15 vĩ độ từ vĩ tuyến 80 đến vĩ tuyến 230, với các vùng sinh thái nông nghiệp tương đối đa dạng từ khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới ở miền Bắc sang khí hậu nhiệt đới ở miền Nam. Vì vậy, Việt nam có điều kiện tự nhiên và khí hậu phù hợp để phát triển nhiều loại rau, quả. Rau được sản xuất ở nước ta theo 3 phương thức: Quảng canh, chuyên canh theo hướng hàng hóa ở các vùng trồng rau tập trung và luân canh với cây trồng khác ở vụ đông.
Sản xuất rau ở nước ta ngày càng gia tăng về diện tích và chủng loại, các vùng chuyên canh rau lớn chủ yếu tập trung ở nơi có điều kiện khí hậu phù hợp và dọc theo vành đai của các thành phố lớn và khu đô thị đông dân để cung cấp cho dân cư đô thị, với tổng diện tích ước tính khoảng 40% tương đương với 113.000 ha n 7 và 48% sản lượng rau toàn quốc tương đương với 153 triệu tấn. Các loại rau này được sản xuất và tiêu dùng tại thị trường nội địa [7]. Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam giai đoạn 1980 – 2010 TT Năm Diện tích(ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn) 1 1980 220.774,0 (Nguồn: FAO statistic, 2011) [12] Số liệu bảng 1.3 cho thấy, trong những năm gần đây diện tích trồng rau của nước ta tăng lên rõ rệt. Năm 1980 cả nước trồng được 220.
Năm 2000 diện tích trồng rau của nước ta tăng kỷ lục, đạt 452.800 ha so với năm 1990, tăng 232.900 ha so với năm 1980. Năm năm trở lại đây diện tích trồng rau của nước ta biến động thất thường, năm 2006 cả nước trồng được 536.014 ha so với năm 2000. Tuy nhiên, năm 2008 diện tích rau bị giảm nhẹ đến năm 2010 diện tích trồng rau mới tăng trở lại đạt 553. Năng suất rau của nước ta có xu hướng biến động gần giống năng suất rau của thế giới.
Năm 1980 năng suất rau chỉ đạt 98,84 tạ/ha; năm 1990 đạt 112,35 tạ/ha và năm 2000 đạt cao nhất là 124,36 tạ/ha. Giai đoạn 2006 – 2010 năng suất rau biến động thất thường, năm 2008 có năng suất rau thấp nhất là 117,06 tạ/ha, năm 2010 năng suất rau tăng lên đạt 212,64 tạ/ha nhưng vẫn thấp hơn 1,83 tạ/ha so với năm 2007; thấp hơn 2,72 tạ/ha so với năm 2000. Tuy nhiên, sản lượng rau vẫn tăng lên đáng kể qua các giai đoạn. Năm 1980 cả nước thu được 2.658,5 tấn so với năm 1980 (trung bình tăng 76.
Năm 2000 sản lượng rau đạt 5.805,9 tấn/năm so với năm 1990 (trung bình tăng n 8 269.464,4 tấn so với năm 1980. Năm 2010 sản lượng rau của nước ta cao nhất, đạt 6.509,6 tấn so với năm 2000 (trung bình tăng 110.050,96 tấn/năm, thấp hơn giai đoạn 1990 - 2000). Đồng Bằng Sông Hồng là vùng sản xuất rau lớn nhất cả nước, chiếm khoảng 29% sản lượng rau toàn quốc. Đông Bằng Sông Cửu Long là vùng trồng rau lớn thứ hai trên cả nước, chiếm 23% sản lượng rau toàn quốc.
Đà Lạt, Tây Nguyên cũng là các vùng chuyên canh sản xuất rau cho xuất khẩu và cho nhu cầu tiêu thụ thành thị, nhất là thị trường thành phố Hồ Chí Minh. Các tỉnh Miền Bắc nước ta bước đầu đã hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung với những sản phẩm có giá trị cao như: Rau, quả, hoa, thịt, sữa. Tuy diện tích trồng rau đã tăng lên đáng kể, nhưng kèm theo sự tăng lên về diện tích là sự bất ổn về chất lượng rau và nạn ô nhiễm môi trường. Một số vấn đề môi trường trong sản xuất rau chuyên canh 1.
Hiện trạng môi trường tại các vùng trồng rau chuyên canh Kết quả phân tích kim loại nặng trong đất trồng rau với 733 mẫu đất ở 478 địa điểm trên địa bàn 112 xã, phường thuộc Hà Nội cũ trong các năm 2006, 2007 được trình bày trong bảng 1. Tình hình ô nhiễm kim loại nặng trong đất tại Hà Nội Địa điểm kiểm tra Chỉ tiêu TT Đông Gia Lâm – Thanh Trì - Sóc Từ Tổng phân tích Anh Long Biên Hoàng Mai Sơn Liêm cộng Tổng số mẫu I 229 141 193 84 86 733 đã thu thập II Số mẫu vượt ngưỡng tối đa cho phép 1 Asen 0 0 0 0 0 0 2 Thủy ngân 0 0 0 0 0 0 3 Kẽm 0 0 0 0 0 0 4 Cadimi 0 0 2 0 0 2 5 Chì 0 0 0 0 1 1 6 Đồng 2 13 14 0 17 46 7 Đồng + Chì 9 6 8 0 0 23 8 Cd + Cu + Pb 0 0 1 0 0 1 Tổng mẫu ô nhiễm 11 19 25 0 18 73 Nguồn: Tạ Văn Cường (2009) [3] n 9 Số liệu bảng 1.4 cho thấy, trong số các mẫu đất đã được phân tích, có 23 mẫu vượt quá giới hạn tối đa cho phép đối với cả đồng và chì, tập trung tại các địa phương: Đông Anh, Gia Lâm - Long Biên và Thanh Trì - Hoàng Mai. Đặc biệt có 01 mẫu tại Thanh Trì vượt quá giới hạn tối đa cho phép đối với 3 nguyên tố là Cadimi, Đồng và Chì. Kết quả nghiên cứu xác định vùng đủ điều kiện sản xuất rau an toàn của Hà Nội thực hiện trong hai năm 2006 - 2007 đã cho thấy: Trong tổng số 478 vùng sản xuất rau của Hà Nội (cũ) có 52 vùng (diện tích 693,2 ha canh tác, chiếm 26,2% tổng diện tích rau của Hà Nội cũ) có hàm lượng kim loại nặng trong đất, nước tưới vượt ngưỡng quy định cho phép.
Tuy nhiên, việc đánh giá chất lượng rau ở những vùng này về hàm lượng kim loại nặng chưa được thực hiện đầy đủ [3].