Đặt vấn đề Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề ngày càng nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp tới sự phát triển kinh tế và xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của thế hệ hiện tại và tương lai. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH hiện nay không chỉ là đỏi hỏi cấp thiết với các cấp quản lý, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả một hệ thống chính trị và của cả xã hội. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính: ô nhiễm môi trường đất, ô nhiễm môi trường nước và ô nhiễm môi trường không khí.
Văn Quan là huyện nằm ở trung tâm của tỉnh Lạng Sơn, có diện tích khoảng 550km² và dân số 54.068 người (năm 2009), huyện văn quan nằm trên quốc lộ 1B cách thành phố lạng sơn khoảng 45km về hướng tây, quốc lộ 227 theo hướng nam đi huyện Chi Lăng. Là huyện trung tâm, huyện Văn quan là cửa ngõ giao lưu kinh tế - văn hóa - giáo dục giữa các huyện khác trong tỉnh Lạng Sơn, là địa bàn quan trọng, là cầu nối giữa tỉnh Thái Nguyên và Tỉnh Lạng Sơn. Văn Quan được thành lập bao gồm Châu Điềm He và 6 xã Châu Bằng Mạc. Sông Kỳ Cùng là con sông chính ở tỉnh Lạng Sơn, có độ dài khoảng 243km, diện tích lưu vực 6660km², chảy sang Trug Quốc và là một chỉ lưu sông Tây Giang; Bắt nguồn từ vung núi Bắc Xa cao 1.166m thuộc huyện Đình Lập tỉnh Lạng Sơn, sông này thuộc lưu vực sông Tây Giang (Trung Quốc).
Dòng sông chảy theo hướng đông nam – tây bắc qua thành phố Lạng Sơn. Cách thành n 2 phố khoảng 22km về phía tây bắc, dòng sông đổi hướng để chảy gần như theo hướng Nam – Bắc tới thị trấn Văn Lãng rồi lại đổi hướng thành Đông Nam – Tấy Bắc trước khi rẽ sang hướng đông ở gần thị trấn Thất Khê. Từ thị trấn Thất Khê, dòng sông chảy gần như theo đường vòng cung, đoạn chảy đầu theo hướng Tây tây Bắc – Đông đông Nam tới Bi Nhi, từ đây nó vượt biên sang Trung Quốc. Sông có độ dài đoạn chảy qua địa bàn thành phố Lạng Sơn là 19km, rộng trung bình 100m, lưu lượng trung bình dưới 2.
Sông Kỳ Cùng là nguồn nước phục vụ chủ yếu cho cư dân sống dọc ven hai bên bờ lấy nước cho sinh hoạt, tưới tiêu mùa màng, phục vụ sản xuất. Do đó nghiên cứu về thực trạng môi trường nước sông Kỳ Cùng là hết sức cần thiết, nhằm cụ thể hóa các giải pháp về quản lý lưu vực, quản lý việc xả thải ra sông, tuyên truyền giáo dục đê nâng cao ý thức của mọi người dân, nhất là khi quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh, nhằm phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường, cùng với sự hướng dẫn của cô giáo TS. Trần Thị Phả, em tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn”.
Mục đích của đề tài - Thông qua nghiên cứu đánh giá đề tài để nắm được thực trạng nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua địa bàn huyện Văn Quan thông qua số liệu phân tích - Xác định được những thuận lợi khó khăn trong công tác quản lý thực trạng nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy quan địa bàn huyện Văn Quan – tỉnh Lạng Sơn - Kiến nghị một số biện pháp quản lý cũng như bảo vệ nguồn nước được tốt hơn n 3 1. Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu sơ bộ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Văn Quan - Nghiên cứu các vấn đề gây tác động đến môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua địa bàn huyện Văn Quan - Đê xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu, khắc phục tình trạng suy thoái, giảm chất lượng môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua địa bàn huyện Văn Quan – tỉnh Lạng Sơn. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: + Đánh giá thực trạng môi trường nước sông Kỳ Cùng đoạn chảy qua địa bàn huyện Văn Quan + Đưa ra cách nhìn tổng quát về chất lượng nước sông Kỳ Cùng để có các giải pháp phòng ngừa suy thoái môi trường trong khu vực nghiên cứu * Ý nghĩa trong thực tiễn: + Là môi trường tốt giúp cho việc vận dụng một cách tổng hợp những kiến thức đã học vào thực tế qua quá trình thực hiện đề tài. + Là cơ hội giúp ta biết triển khai một đề tài khoa học, cách viết báo cáo.
+ Là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu khoa học n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận Nước là thành phần quan trọng làm nên và duy trì sự sống trên Trái đất. Nước tham gia vào hầu hết các ngành, các lĩnh vực của đời sống con người.
Chính vì vai trò rất quan trọng của nước nên con người đã xếp nước vào một trong những loại tài nguyên quý giá. Cùng với tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự gia tăng dân số khá nhanh, con người ngày càng tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước. Điều này đã làm cho tài nguyên nước có nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm ngày càng nặng, vì vậy phải sớm có những biện pháp quản lý phù hợp. Một số khái niệm liên quan: Môi trường: Theo khoản 1, điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2005), “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống con người, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” (Luật Bảo vệ Môi trường, 2005) [4].
Đánh giá tác động môi trường: Theo khoản 20 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm (2005), “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó” (Luật Bảo vệ Môi trường, 2005) [4]. Quan trắc môi trường: Theo khoản 17, điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2005), “Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường” (Luật Bảo vệ Môi trường, 2005) [4]. n 5 Ô nhiễm môi trường: Theo khoản 6, điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2005), “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật” (Luật Bảo vệ Môi trường, 2005) [4]. Ô nhiễm nguồn nước: “Ô nhiễm nguồn nước là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép” (Dư Ngọc Thành, 2009) [2].
Ô nhiễm nước: Theo hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do cong người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật và các loài hoang dã” (http://vea.vn/vn/truyenthong/hoidapmt/Pages/%C3%94nhi%E1%BB%8 5mn%C6%B0%E1%BB%9Bcl%C3%A0g%C3%AC. Cơ sở thực tiễn Dữ liệu nước về toàn cầu…780 triệu người không được tiếp cận với nguồn nước sạch an toàn, ước tính khoảng 3,5 triệu người không đáp ứng về quyền sử dụng nước và 2,5 tỷ người sử dụng nước không đáp ứng tiêu chuẩn về vệ sinh. Số liệu cho thấy cuối những năm 1980 đến nay, tổng lượng nước sạch khai thác hàng năm 1% mỗi năm. Đến năm 2050, nhu cầu khai thác nước dự đoán sẽ tăng khoảng 44% do sự gia tăng về nhu cầu sử dụng nước của các ngành sản xuất về chế tạo, nhiệt điện (Phần lớn do việc mở rộng các nhà máy sản xuất điện sử dụng than và gas), nông nghiệp và nước sinh hoạt.
Mức độ khai thác nước dưới đất cũng gia tăng từ 1% đến 2% mỗi năm, tạo thêm sức ép về nước cho một số khu vực. Các bằng chứng gần đây cho thấy nguồn cung nước dưới đất đang suy thoái và cạn kiệt. Các số liệu cũng chỉ ra khoảng 20% tầng chứa nước trên toàn thế giới bi khai thác quá mức. Mỗi năm khoảng 75,2 TWh (tương đương với 8.572MW) điện sử dụng để xử lý nước bị nhiễm n 6 mặn, tương đương với 0,4% tổng lượng điện tiêu thụ toàn cầu.
Ước tính khoảng 80% lượng nước thải trên toàn cầu và 90% lượng nước thải của các nước đang phát triển không đước thu thập và xử lý trước khi ra môi trường, đe dọa sức khỏe con người và môi trường (Ngày nước thế giới 2014). Nguồn nước bị ô nhiễm đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người. Gần 5 triệu người chết hàng năm ở các nước đang phát triển có liên quan đến vấn đề thiếu nước sạch (Niên giám thống kê thành phố Lạng Sơn năm 2011, 2012) [1]. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường được quốc hôi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2006.
- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước CHXHCNVN khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/06/2012. - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường Việt nam. - Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường Việt nam. - Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thông tư số 29/2011/TT-BTNMT ngày 31/07/2009 của Bộ tài nguyên và Môi trường quy định quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường nước mặt lục địa. - Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Chính phủ quyết định về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn Việt Nam về moi trường.