Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ô nhiễm môi trường tại các khu vực làng nghề là một trong những thách thức nổi cộm đối với công tác bảo vệ môi trường nông thôn ở Việt Nam. Dưới sức ép của quá trình tăng trưởng kinh tế, nhiều cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển tự phát với quy mô nhỏ lẻ, công nghệ thô sơ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém và vị trí sản xuất đan xen trực tiếp trong các khu dân cư. Điều này dẫn đến sự gia tăng lưu lượng nước thải, khí thải và chất thải rắn chưa qua xử lý xả thẳng ra môi trường tự nhiên, gây suy thoái chất lượng môi trường đất, nước, không khí cũng như gia tăng các nguy cơ bệnh tật đối với cộng đồng dân cư địa phương.
Thành phố Hà Giang là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh Hà Giang. Địa bàn thành phố có hai làng nghề truyền thống đang hoạt động và đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết sinh kế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân: làng nghề sản xuất bánh chưng gù tại thôn Bản Tùy (xã Ngọc Đường) và làng nghề sản xuất chế biến chè Shan tuyết tại thôn Nà Thác, thôn Khuổi My (xã Phương Độ). Sự phát triển của các cơ sở sản xuất tại hai địa phương này đã đem lại giá trị kinh tế đáng kể, tuy nhiên cũng phát sinh các nguồn thải tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm như nước thải sơ chế nguyên liệu, nước luộc bánh, khói bụi từ quá trình đun nấu, sao sấy bằng củi, cùng tiếng ồn cơ học từ máy vò và máy xao chè. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề tại khu vực thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang" được thực hiện nhằm xác lập cơ sở thực tiễn về hiện trạng môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý, giảm thiểu ô nhiễm phù hợp với điều kiện địa phương.
Văn bản khóa luận xác định mục tiêu tổng quát là đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường tại các làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Giang, từ đó đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và hoàn thiện công tác quản lý, giám sát môi trường. Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 5 nội dung chính:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội tại các địa bàn có làng nghề của thành phố Hà Giang.
- Khảo sát công nghệ và quy trình sản xuất thực tế của từng làng nghề.
- Xác định và phân loại các nguồn gây ô nhiễm nước, đất và không khí phát sinh từ hoạt động sản xuất.
- Đánh giá ảnh hưởng của quá trình sản xuất đến môi trường nước, đất, không khí thông qua quan trắc phân tích và điều tra xã hội học.
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình sản xuất đến môi trường, bảo đảm tính khả thi cho địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được phân định rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy trình và công đoạn sản xuất tại làng nghề bánh chưng gù (thôn Bản Tùy, xã Ngọc Đường) và làng nghề sản xuất chế biến chè (thôn Nà Thác, Khuổi My, xã Phương Độ); chất lượng các thành phần môi trường nước, không khí tại làng nghề bánh chưng gù; môi trường đất, nước, không khí tại làng nghề chế biến chè; nhận thức và đánh giá của cộng đồng dân cư sinh sống và trực tiếp sản xuất tại các làng nghề.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thôn Bản Tùy thuộc xã Ngọc Đường và thôn Khuổi My, thôn Nà Thác thuộc xã Phương Độ, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập tài liệu, khảo sát thực địa, lấy mẫu và phỏng vấn cộng đồng từ tháng 02 năm 2018 đến tháng 05 năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý luận, khóa luận viện dẫn định nghĩa làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, có các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động cũng như thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng. Tác giả áp dụng các tiêu chí công nhận làng nghề theo quy định quản lý ngành nghề nông thôn: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; và chấp hành tốt các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Về phân loại, văn bản tổng hợp các cách phân loại làng nghề theo phương thức sản xuất và loại hình sản phẩm, theo số lượng làng nghề, theo thời gian làm nghề, và theo nguồn thải cùng mức độ ô nhiễm.
Khung pháp lý và tiêu chuẩn môi trường được sử dụng làm căn cứ đối chiếu và đánh giá bao gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
- Luật Tài nguyên nước năm 2005.
- Nghị định số 179/1999/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước.
- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/8/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
- Hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: TCVN 5942:1995 (chất lượng nước - tiêu chuẩn nước mặt); TCVN 5992:1995 và TCVN 5993:1995 (kỹ thuật lấy mẫu, bảo quản và xử lý mẫu nước); QCVN 08:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, cột B1); QCVN 14:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt); QCVN 03:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất).
Để thực hiện các nội dung đặt ra, tác giả kết hợp 5 phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp khảo sát ngoài thực địa: Tiến hành quan sát, mô tả trực tiếp các khâu trong dây chuyền sản xuất thủ công từ chuẩn bị nguyên liệu, sơ chế, chế biến đến đóng gói sản phẩm tại hai làng nghề.
- Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: Kế thừa, tổng hợp số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội từ các báo cáo thống kê của UBND thành phố Hà Giang, UBND xã Ngọc Đường, xã Phương Độ; các báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Giang, Viện Bảo hộ Lao động và Tổng cục Môi trường.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thiết kế phiếu điều tra in sẵn để phỏng vấn trực tiếp 30 hộ gia đình được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên, bao gồm cả hộ trực tiếp làm nghề và hộ dân cư xung quanh không làm nghề. Cơ cấu mẫu điều tra gồm 10 phiếu tại làng nghề bánh chưng gù Bản Tùy và 20 phiếu tại làng nghề chè Nà Thác - Khuổi My.
- Phương pháp lấy mẫu hiện trường và phân tích phòng thí nghiệm: Lấy mẫu nước mặt tại các ao, sông, suối chảy qua làng nghề và mẫu nước thải tại các cửa xả của hộ sản xuất trước khi chảy vào hệ thống thoát nước chung vào những ngày khô ráo, không mưa. Phân tích các thông số pH, TSS, DO, COD, $\text{BOD}_5$ tại phòng thí nghiệm của Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.
- Phương pháp so sánh tiêu chuẩn môi trường: Sử dụng giá trị giới hạn của QCVN 08:2008/BTNMT (cột B1) để đối chiếu, đánh giá mức độ sạch hoặc ô nhiễm của các thông số môi trường nước mặt.
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Phần mở đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu dựa trên bức tranh tổng quan về ô nhiễm môi trường làng nghề ở quy mô toàn quốc và thực trạng sản xuất thủ công nghiệp tại thành phố Hà Giang. Tác giả nhấn mạnh sự đóng góp của hai làng nghề bánh chưng gù và chế biến chè Shan tuyết đối với đời sống kinh tế địa phương, đồng thời chỉ rõ nguy cơ phát sinh ô nhiễm do công nghệ sản xuất thô sơ, thiếu quy hoạch mặt bằng tập trung và việc xả thải trực tiếp chưa qua xử lý triệt để. Phần này cũng xác định rõ mục đích, nhiệm vụ, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp.
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về làng nghề và môi trường làng nghề tại Việt Nam:
- Cơ sở lý luận về làng nghề: Nêu định nghĩa, tiêu chuẩn công nhận làng nghề theo văn bản quản lý nhà nước và phân tích 4 phương thức phân loại làng nghề.
- Xu thế phát triển và trình độ kỹ thuật: Trích dẫn số liệu thống kê năm 2008 của Tổng cục Môi trường cho thấy số lượng làng nghề tăng mạnh ở khu vực Đồng bằng sông Hồng nhưng có xu hướng suy thoái hoặc giữ nguyên ở vùng Đông Bắc và Tây Bắc. Về trình độ công nghệ, nhóm ngành thủ công mỹ nghệ và vật liệu xây dựng có tỷ lệ sản xuất thủ công và bán cơ khí chiếm tới 61,56%, tỷ lệ tự động hóa tại các làng nghề được khảo sát bằng 0%.
- Tác động của sản xuất làng nghề: Phân tích vai trò tích cực đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo nông thôn song song với những tác động tiêu cực đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. Văn bản phân tích đặc trưng ô nhiễm tại 6 nhóm loại hình: làng nghề mộc và chạm khắc (tiếng ồn vượt 85–95 dBA, nồng độ bụi từ 1,2 đến 24,5 $\text{mg/m}^3$); làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng; làng nghề chế biến thực phẩm (nước thải giàu chất hữu cơ, $\text{BOD}$, cặn lơ lửng, nitơ amoni); làng nghề tái chế kim loại (khí thải chứa $\text{PbO}$, $\text{ZnO}$, $\text{SO}_2$, nước thải ô nhiễm chì, xyanua); làng nghề làm giấy (hàm lượng cặn lơ lửng vượt tiêu chuẩn 5–10 lần, $\text{BOD}$ vượt 6–12 lần); làng nghề rèn - cơ khí.
- Thực trạng sức khỏe tại các làng nghề: Trích dẫn các điều tra dịch tễ của Viện Bảo hộ Lao động tại các làng tái chế kim loại như Đông Mai (triệu chứng tức ngực, khó thở chiếm 65,6%, suy nhược thần kinh chiếm 71,8%, tỷ lệ hồng cầu giảm chiếm 19,4%), Văn Môn (bệnh hô hấp chiếm 64,4%), Vân Mai (bệnh da liễu chiếm 68,5%, đường ruột chiếm 58,8%).
- Tổng quan làng nghề thành phố Hà Giang: Giới thiệu lịch sử hình thành, sự gắn bó lâu đời của nghề sản xuất chè Shan tuyết tại Nà Thác, Khuổi My và nghề làm bánh chưng gù tại Bản Tùy.
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết đối tượng nghiên cứu (quy trình kỹ thuật, các dòng thải và các yếu tố môi trường nước, đất, không khí tại hai làng nghề), phạm vi nghiên cứu tại xã Ngọc Đường và xã Phương Độ trong khoảng thời gian từ tháng 02 đến tháng 05 năm 2018. Chương này cụ thể hóa 5 nội dung nghiên cứu cùng quy trình triển khai các phương pháp: khảo sát hiện trường; thu thập số liệu thứ cấp; điều tra xã hội học với bảng hỏi 30 hộ; phương pháp lấy mẫu nước mặt, nước thải và xử lý mẫu theo TCVN 5992:1995, TCVN 5993:1995; địa điểm phân tích tại phòng thí nghiệm Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; và phương pháp đối sánh kết quả quan trắc với QCVN 08:2008/BTNMT (cột B1), QCVN 03:2008/BTNMT.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát, phân tích thực nghiệm và xử lý số liệu điều tra:
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Thành phố Hà Giang có diện tích 134,04 $\text{km}^2$, gồm 5 phường, 3 xã với 17 dân tộc sinh sống (dân tộc Kinh chiếm 55%, Tày 22%). Thôn Bản Tùy (Ngọc Đường) cách trung tâm thành phố 5 km, diện tích tự nhiên 627 ha (văn bản ghi 627 $\text{km}^2$), có 131 hộ với 387 nhân khẩu, trong đó có 40 hộ làm nghề bánh chưng gù (chiếm 20,75% số hộ toàn xã Ngọc Đường). Thôn Khuổi My và Nà Thác (Phương Độ) cách trung tâm 9–10 km, đường đèo dốc hiểm trở, diện tích 1.050 ha (văn bản ghi 1.050 $\text{km}^2$), có 132 hộ với 687 nhân khẩu, trong đó 107 hộ làm nghề chè Shan tuyết. Tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố còn 0,81%, cận nghèo 1,84%.
- Quy trình sản xuất:
- Làng nghề bánh chưng gù Bản Tùy: Sử dụng gạo nếp Khum ngâm nước cốt lá riềng (tạo màu xanh) hoặc nước tro cây sương muối (tạo màu đen), đỗ xanh đồ chín đánh tơi, thịt lợn đen ướp gia vị, gói bằng lá dong rừng theo hình gù và luộc trong thời gian từ 6 đến 8 tiếng bằng củi khô. Thống kê lượng nguyên liệu sử dụng trong một năm của làng nghề: gạo nếp 300 tấn/năm, đỗ xanh 73 tấn/năm, thịt lợn 146 tấn/năm, lá dong 2.000 tàu lá/năm. Sản lượng đạt trên 10.000 chiếc bánh/ngày, đem lại thu nhập từ 30 đến 50 triệu đồng/tháng cho các hộ sản xuất tiêu biểu.
- Làng nghề sản xuất chế biến chè Nà Thác - Khuổi My: Khai thác từ cây chè cổ thụ mọc tự nhiên trên núi cao, hoàn toàn không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Thu hoạch 4 vụ/năm (vụ 1 cuối tháng 3 - đầu tháng 4 có chất lượng cao nhất; vụ 2 tháng 5 - tháng 6 có sản lượng cao nhất; vụ 3 tháng 8; vụ 4 tháng 10 - tháng 11). Quy trình chế biến thủ công gồm: hái chè (bảo quản dưới 6–10 tiếng ở nhiệt độ dưới $25^\circ\text{C}$, lớp chè dày không quá 20 cm) $\rightarrow$ xao chè bằng thùng quay ở nhiệt độ $200 - 300^\circ\text{C}$ $\rightarrow$ vò chè 2 lần (mỗi lần 15–20 phút) $\rightarrow$ làm tơi thủ công bằng tay $\rightarrow$ sấy khô ở nhiệt độ $95 - 100^\circ\text{C}$ trong 15–20 phút $\rightarrow$ làm nguội và đóng gói trong túi nilon, bao tải.
- Nguồn phát sinh chất thải:
- Làng nghề bánh chưng: Nước thải phát sinh từ khâu ngâm, rửa gạo, đỗ, rửa lá dong và nước luộc bánh chứa nhiều tinh bột, đường và axit hữu cơ dễ phân hủy; chất thải rắn gồm tro củi luộc bánh và cuống lá, lá dong rách; khí thải từ quá trình đốt củi chứa khói, muội than, $\text{CO}$, $\text{CO}_2$.
- Làng nghề chè: Nước thải phát sinh không đáng kể (chủ yếu từ sinh hoạt); chất thải rắn gồm xỉ than, tro củi, chè vụn, bao bì hỏng; khí thải từ lò sấy than củi; tiếng ồn cơ học phát sinh từ máy xao và máy vò chè (thiết bị cũ, sử dụng lâu năm chiếm 80%).
- Đánh giá hiện trạng môi trường:
- Tại làng nghề bánh chưng gù: Nước thải sản xuất được thu gom qua hệ thống cống rãnh và xử lý qua hầm Biogas trước khi thải ra ngoài. Kết quả đo đạc mẫu nước mặt có $\text{pH} = 6,68$ (đạt ngưỡng quy chuẩn); giá trị $\text{BOD}_5$ đạt 12–15 $\text{mg/l}$, $\text{COD}$ đạt 22–29 $\text{mg/l}$, $\text{TSS}$ đạt 47–52 $\text{mg/l}$. Phỏng vấn 10 hộ dân ghi nhận: 70% đánh giá môi trường nước không ô nhiễm (20% có nguy cơ, 10% ô nhiễm); 60% đánh giá chất thải rắn được quản lý rất tốt; 50% (5 phiếu) đánh giá môi trường không khí không ô nhiễm. Tro củi đốt được tận dụng bón cho cây trồng.
- Tại làng nghề chế biến chè: Nước mặt có các chỉ tiêu: $\text{pH} = 6,5 - 9$; $\text{TSS} = 12 - 15\text{ mg/l}$ (giới hạn QCVN là 50 $\text{mg/l}$); $\text{DO} = 2,7\text{ mg/l}$ (thấp hơn ngưỡng cho phép $\ge 4\text{ mg/l}$); $\text{COD} = 29 - 30\text{ mg/l}$ (ngưỡng quy chuẩn là 30 $\text{mg/l}$); $\text{BOD}_5 = 10 - 11\text{ mg/l}$ (ngưỡng quy chuẩn là 15 $\text{mg/l}$). Về tiếng ồn từ máy xao/vò chè: 35% hộ đánh giá ồn, 50% đánh giá hơi ồn, 15% không ảnh hưởng. Về không khí: 50% đánh giá không ô nhiễm, 40% có nguy cơ ô nhiễm, 10% ô nhiễm. Về chất lượng nước: 75% đánh giá không ô nhiễm, 20% có nguy cơ, 5% ô nhiễm. Do không dùng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón, môi trường đất và nước ngầm không bị tác động độc hại; tác giả không thực hiện phân tích mẫu đất và nước ngầm tại thực địa.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Chương cuối tóm tắt toàn bộ phát hiện của khóa luận: sản xuất tại các làng nghề thành phố Hà Giang vẫn mang tính chất gia đình, nhỏ lẻ, công nghệ thô sơ nhưng chất lượng môi trường tổng thể hiện vẫn nằm trong ngưỡng an toàn, chưa xuất hiện dấu hiệu suy thoái nghiêm trọng do quy mô phát thải còn thấp và người dân đã có ý thức xử lý bước đầu (xây dựng hầm Biogas, tận dụng tro củi, duy trì canh tác chè tự nhiên). Tác giả kiến nghị 4 nhóm giải pháp: nâng cao năng lực quản lý môi trường gắn với cộng đồng; đầu tư đồng bộ hạ tầng xử lý nước thải và bảo hộ lao động; xây dựng bể tích trữ nước mưa phục vụ tưới chè và quy hoạch vùng chăn thả gia súc riêng biệt tránh làm bẩn nguồn nước; thực hiện dán tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm và hỗ trợ sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các số liệu quan trắc thực nghiệm và điều tra xã hội học phản ánh hiện trạng môi trường tại hai làng nghề nghiên cứu thông qua hệ thống dữ liệu cụ thể:
| Thông số phân tích |
Đơn vị |
Làng nghề bánh chưng gù Bản Tùy |
Làng nghề chế biến chè Nà Thác - Khuổi My |
QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1) |
| $\text{pH}$ |
- |
6,68 |
6,5 – 9,0 |
5,5 – 9,0 |
| $\text{TSS}$ (Tổng chất rắn lơ lửng) |
$\text{mg/l}$ |
47 – 52 |
12 – 15 |
50 |
| $\text{DO}$ (Oxy hòa tan) |
$\text{mg/l}$ |
- |
2,7 |
$\ge 4$ |
| $\text{COD}$ (Nhu cầu oxy hóa học) |
$\text{mg/l}$ |
22 – 29 |
29 – 30 |
30 |
| $\text{BOD}_5$ ($20^\circ\text{C}$) |
$\text{mg/l}$ |
12 – 15 |
10 – 11 |
15 |
Ghi chú: Dữ liệu phân tích mẫu nước mặt được trích xuất từ Bảng 3 và nội dung tổng kết tại Chương 4 của khóa luận.
Song song với kết quả hóa lý, kết quả điều tra xã hội học từ 30 phiếu khảo sát ghi nhận tỷ lệ đánh giá của người dân về các yếu tố môi trường như sau:
| Tiêu chí khảo sát |
Làng nghề bánh chưng gù Bản Tùy ($n = 10$) |
Làng nghề chế biến chè Nà Thác - Khuổi My ($n = 20$) |
| Chất lượng nước |
- Không ô nhiễm: 70% (7 phiếu) - Có nguy cơ: 20% (2 phiếu) - Ô nhiễm: 10% (1 phiếu) |
- Không ô nhiễm: 75% (15 phiếu) - Có nguy cơ: 20% (4 phiếu) - Ô nhiễm: 5% (1 phiếu) |
| Môi trường không khí |
- Không ô nhiễm: 50% (5 phiếu) - Bình thường: 30% (3 phiếu) - Có nguy cơ: 20% (2 phiếu) |
- Không ô nhiễm: 50% (10 phiếu) - Có nguy cơ: 40% (8 phiếu) - Ô nhiễm: 10% (2 phiếu) |
| Chất thải rắn / Tiếng ồn |
- CTR Rất tốt: 60% (6 phiếu) - CTR Tốt: 20% (2 phiếu) - CTR Bình thường: 20% (2 phiếu) |
- Tiếng ồn rất ồn: 0% - Tiếng ồn ồn: 35% (7 phiếu) - Tiếng ồn hơi ồn: 50% (10 phiếu) - Không ảnh hưởng: 15% (3 phiếu) |
Ghi chú: Tỷ lệ phần trăm và số lượng phiếu được tổng hợp nguyên văn theo các bảng điều tra tại Chương 3.
Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất các nội dung cụ thể:
- Duy trì và mở rộng hệ thống hầm Biogas xử lý nước thải giàu chất hữu cơ tại làng nghề bánh chưng gù; xây dựng thêm các bể chứa nước thải phòng ngừa tình trạng quá tải vào các dịp cao điểm lễ, Tết.
- Khắc phục khí thải và an toàn lao động: tu sửa, thay mới các mái tôn và chụp hút khói tại các xưởng luộc bánh chưng để tránh muội than tích tụ gây nguy hiểm; trang bị đồ bảo hộ cá nhân (khẩu trang, găng tay) cho người lao động trực tiếp tham gia sản xuất.
- Giải pháp cho làng nghề chè: di dời chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm ra xa khu vực chế biến chè; quy hoạch vùng chăn thả gia súc (trâu, bò, dê) tách biệt khỏi đồi chè và các nguồn cấp nước; xây dựng bể trữ nước mưa để chủ động tưới tiêu trong mùa khô kiệt; hỗ trợ kinh phí cho các hộ áp dụng quy trình VietGAP và thực hiện dán tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
- Giải pháp quản lý: nâng cao năng lực quản lý nhà nước về môi trường cấp cơ sở gắn với sự tham gia giám sát của cộng đồng dân cư theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải khắc phục ô nhiễm".
Về mặt đóng góp, nghiên cứu đã cung cấp chuỗi dữ liệu thực địa ban đầu về quy trình công nghệ thủ công và hiện trạng các dòng thải tại hai làng nghề đặc thù của thành phố Hà Giang. Đây là cơ sở thực chứng giúp chính quyền xã Ngọc Đường, xã Phương Độ và các cơ quan quản lý chuyên môn có căn cứ định lượng khi xây dựng quy chế bảo vệ môi trường làng nghề gắn liền với bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định các hạn chế nội tại trong quá trình thực hiện:
- Số lượng mẫu quan trắc môi trường còn ít (chỉ phân tích 2 điểm mẫu nước mặt tại mỗi làng nghề) và danh mục chỉ tiêu phân tích còn hạn chế (mới đo đạc $\text{pH}$, $\text{TSS}$, $\text{DO}$, $\text{COD}$, $\text{BOD}_5$), chưa phân tích đầy đủ các hợp chất kim loại nặng và mẫu nước thải theo đề cương ban đầu. Do đó, nghiên cứu mới chỉ phản ánh được tính chất đặc trưng cơ bản chứ chưa đánh giá toàn diện diễn biến chất lượng môi trường theo mùa.
- Tác giả không tiến hành lấy mẫu và phân tích thực nghiệm đối với môi trường đất và nước ngầm tại làng nghề chè, do nhận định người dân canh tác tự nhiên không sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu.
- Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn nhỏ (tổng số 30 phiếu hỏi tại cả hai xã), phương pháp điều tra và kỹ thuật thu thập thông tin còn hạn chế, dẫn đến việc đánh giá môi trường mang nhiều tính chất định tính hơn định lượng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng mạng lưới quan trắc môi trường định kỳ với số lượng mẫu lớn hơn, bổ sung các đợt đo đạc khí thải lò đốt, phân tích đầy đủ các chỉ tiêu kim loại nặng trong đất, nước ngầm và trầm tích, đồng thời gia tăng quy mô mẫu khảo sát cộng đồng để có bức tranh dịch tễ học và môi trường toàn diện hơn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Việt Hải là tài liệu tham khảo phù hợp cho:
- Sinh viên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Phát triển Nông thôn: Cung cấp mẫu cấu trúc của một báo cáo đánh giá hiện trạng môi trường cấp cơ sở, kết hợp giữa khảo sát quy trình công nghệ, lấy mẫu phân tích phòng thí nghiệm và điều tra phỏng vấn nhận thức cộng đồng.
- Cán bộ quản lý môi trường và chính quyền địa phương tại miền núi: Tham khảo số liệu thực tế về định mức tiêu hao nguyên liệu (bánh chưng gù), các bước chế biến chè Shan tuyết cổ thụ, cùng các nguồn thải đặc thù của loại hình chế biến nông sản miền núi nhằm xây dựng kế hoạch kiểm soát ô nhiễm phù hợp với quy mô kinh tế hộ gia đình.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Quy trình công nghệ sản xuất chi tiết của hai làng nghề tại Chương 3 (sơ đồ quy trình, các thông số nhiệt độ sao sấy chè, công thức phối trộn bánh chưng) và hệ thống bảng hỏi điều tra nhận thức của người dân địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Làng nghề bánh chưng gù Bản Tùy tiêu thụ lượng nguyên liệu và có sản lượng thực tế như thế nào trong một năm?
Theo số liệu điều tra thực tế của tác giả tại Chương 3, làng nghề bánh chưng gù Bản Tùy sử dụng khối lượng nguyên liệu trong một năm gồm: 300 tấn gạo nếp, 73 tấn đỗ xanh, 146 tấn thịt lợn và 2.000 tàu lá dong. Quy mô sản xuất của làng đạt hơn 10.000 chiếc bánh mỗi ngày, nhiều hộ gia đình đạt mức thu nhập từ 30 đến 50 triệu đồng/tháng.
2. Công đoạn chế biến chè Shan tuyết tại Nà Thác và Khuổi My có những thông số kỹ thuật nào cần lưu ý?
Búp chè sau khi thu hái phải được đưa về xưởng chế biến trong vòng không quá 6 tiếng và thời gian bảo quản không quá 10 tiếng ở nhiệt độ dưới $25^\circ\text{C}$ với độ dày lớp chè không quá 20 cm. Quá trình xao chè được thực hiện bằng thùng quay ở nhiệt độ từ $200 - 300^\circ\text{C}$; chè được vò 2 lần (mỗi lần 15–20 phút), sau đó làm tơi thủ công bằng tay và sấy khô ở nhiệt độ $95 - 100^\circ\text{C}$ trong thời gian 15–20 phút.
3. Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại làng nghề chè có thông số nào không đạt quy chuẩn môi trường?
Trong các thông số nước mặt được phân tích tại làng nghề chè thôn Nà Thác - Khuổi My, chỉ tiêu $\text{DO}$ (oxy hòa tan) đạt mức 2,7 $\text{mg/l}$, thấp hơn giới hạn cho phép của QCVN 08:2008/BTNMT cột B1 ($\text{DO} \ge 4\text{ mg/l}$). Các chỉ tiêu khác đều nằm trong ngưỡng quy chuẩn: $\text{pH}$ đạt 6,5–9,0; $\text{TSS}$ đạt 12–15 $\text{mg/l}$ (quy chuẩn $\le 50\text{ mg/l}$); $\text{COD}$ đạt 29–30 $\text{mg/l}$ (quy chuẩn $\le 30\text{ mg/l}$); $\text{BOD}_5$ đạt 10–11 $\text{mg/l}$ (quy chuẩn $\le 15\text{ mg/l}$).
4. Tại sao tác giả không tiến hành phân tích mẫu đất và nước ngầm tại làng nghề sản xuất chè xã Phương Độ?
Văn bản nêu rõ nguyên nhân không phân tích mẫu đất và nước ngầm tại làng chè là do cây chè Shan tuyết là cây thân gỗ cổ thụ mọc tự nhiên trên núi cao, đồng bào địa phương không tiến hành bón phân hóa học cũng như không phun thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật; do đó nguy cơ gây ô nhiễm đất và nước ngầm từ hoạt động canh tác chè tại đây được nhận định là hầu như không có.
5. Giải pháp kỹ thuật nào đã được người dân làng nghề bánh chưng gù áp dụng để xử lý chất thải?
Các hộ sản xuất bánh chưng gù tại Bản Tùy đã bố trí hệ thống cống rãnh thoát nước riêng, nạo vét định kỳ và dẫn toàn bộ nước thải sản xuất qua hệ thống hầm Biogas để xử lý trước khi thải ra môi trường. Ngoài ra, nhiên liệu đốt sử dụng 100% là củi gỗ (không dùng than đá công nghiệp), tro củi sau khi đốt được thu gom toàn bộ để bón cho cây trồng, và các loại lá dong hỏng được đưa về bãi rác tập trung đúng quy định.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Việt Hải đã phản ánh đúng thực trạng sản xuất và công tác bảo vệ môi trường tại hai làng nghề truyền thống của thành phố Hà Giang năm 2018. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học cho thấy chất lượng môi trường nước mặt, không khí và quản lý chất thải rắn tại đây nhìn chung vẫn nằm trong giới hạn kiểm soát an toàn, chưa xuất hiện ô nhiễm nghiêm trọng do quy mô sản xuất nhỏ và người dân duy trì phương thức canh tác tự nhiên. Dù còn một số hạn chế về số lượng mẫu quan trắc và phạm vi chỉ tiêu phân tích, công trình đã đóng góp cơ sở dữ liệu thực tiễn hữu ích và đề xuất các nhóm giải pháp quản lý môi trường phù hợp với điều kiện phát triển làng nghề miền núi.