Đặt vấn đề Tre trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae, hoặc còn gọi là Gramineae). Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á trong đó có Việt Nam. Tre trúc dễ trồng, sinh trƣởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên đƣợc sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2005, Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007).
Khác với các loài cây gỗ, tre trúc thƣờng có thân cứng nhƣ gỗ, song có đặc trƣng là thân thƣờng rỗng trong ruột, có hệ thân ngầm (rhizome) và phân cành khá phức tạp, và có hệ thống mo thân hoàn hảo, đƣợc sử dụng hiệu quả trong quá trình phân loại (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2005) [16]. Thân ngầm (thân sống dƣới đất) của tre trúc thƣờng phát triển bò dài trong đất, phát triển thành mạng lƣới, hay chỉ phát triển thành một số đốt ngắn ở gốc cây. Các đốt thân ngầm thƣờng có nhiều rễ và chồi ngủ. Chồi sẽ mọc lên thành cây tre, trúc (thân khí sinh) trên mặt đất hay phát triển thành thân ngầm mới.
Tre trúc dễ trồng, sinh trƣởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên đƣợc sử dụng trong rất nhiều các mục đích khác nhau của con ngƣời, đặc biệt là ngƣời dân nông thôn cả miền đồng bằng và miền núi. Nhìn chung, tre trúc có thể đƣợc sử dụng trong xây dựng, thực phẩm, phục vụ mục tiêu văn hoá, và một số các công dụng khác. Ngoài việc sử dụng tre trúc cho xây dựng, một số loài tre trúc còn cho măng ăn ngon nhƣ mang mai, măng luồng, măng tre, măng mạy lay, măng nứa, có khi là măng đắng nhƣ măng vầu. Đây là nguồn thực phẩm tốt, và c 2 cũng là nguồn thu nhập quan trọng của ngƣời dân miền núi.
Trong thời gian gần đây, việc trồng tre lấy măng (kể cả tre trúc bản địa và nhập nội) đang phát triển mạnh mẽ, góp phần xoá đói giảm nghèo và tăng đáng kể giá trị lợi ích của đất trồng rừng và tăng việc làm cho ngƣời dân (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2005). Loài Mạy Chả Điện Biên còn có khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao. Mặt khác, hiện nay việc kinh doanh cây Mạy Chả Điện Biên vẫn theo hƣớng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm của ngƣời dân địa phƣơng và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên năng suất không cao nhƣ vốn có của nó. Đặc biệt việc phát triển mở rộng diện tích trồng loài cây này rất khó khăn do nhân giống bằng gốc, rất hạn chế về số lƣợng giống, ngoài thị trƣờng còn chƣa có nguồn cung cấp giống, hạn chế về khoa học kĩ thuật, ngƣời dân chủ yếu là khai thác ngoài tự nhiên chƣa co kinh nghiêm gây trồng Nhƣ vậy, việc gây trồng Mạy Chả Điện Biên còn thiếu hƣớng dẫn kỹ thuật nhân giống khó có khả năng đáp ứng số lƣợng giống lớn cho gây trồng nhân rộng; thiếu biện pháp kỹ thuật trồng rƣ̀ng, kỹ thuật và công nghệ chế biến chƣa đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Do đó, việc kế thừa kết quả nghiên cứu kỹ thuật nhân giố n g, gây trồng, chế biến đã thành công cho một số loài tre, đă ̣c biê ̣t là các loài thuô ̣c chi Dendrocalamus vào nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, kỹ thuật trồng, chế biến sản phẩm và tổng kết những kiến thức bản địa có giá trị kết hợp với kỹ thuật hiện đại cần đƣợc nghiên cứu thử nghiệm cho cây Mạy Chả Điện Biên. Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài “ đánh giá sơ bộ về hiện trạng phân bố và đề xuất giải pháp phát triển cây Mạy Chả (Arundinaria sp.2) tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” đƣợc đặt ra là rất cần thiết c 3 1. Mục tiêu nghiên cứu - Xác định đƣợc hiện trạng phân bố và sinh trƣởng cây Mạy Chả tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. - Tìm hiểu đƣợc sản phẩm thu hoạch.
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật phát triển cây Mạy Chả nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu chế biến, xuất khẩu cho tỉnh Điện Biên 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cây Mạy Chả. - Làm quen với một số phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong nghiên cứu.
Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. - Biết đƣợc tầm quan trọng của công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng hiện nay. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng hiện nay, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng. - Giúp nắm rõ hơn về đặc điểm phân bố và sinh trƣởng phát triển của loài cây Mạy Chả - Giúp hiểu rõ hơn về khả năng tái sinh, phục hồi rừng và có cơ sở đề ra những biện pháp lâm sinh nhƣ khoanh nuôi phục hồi rừng, làm giàu rừng để có thể tận dụng đƣợc những khu rừng sinh trƣởng phát triển tự nhiên mang lại hiệu quả hơn cho ngƣời dân vùng cao của tỉnh Điện Biên cũng nhƣ việc cải tạo môi trƣờng, tăng mức độ đa dạng sinh học.
c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Thân cây Mạy Chả nhỏ lóng dài, chắc, bền nên thƣờng đƣợc dùng làm đồ gia dụng, chế biến thay thế cho gỗ có hiệu quả cao. Các dân tộc vùng cao dùng Mạy Chả làm khèn, làm sáo, ngoài ra còn dùng để đan giỏ hoa, làm đồ trang trí, măng cây Mạy Chả ăn ngon, có thể ăn tƣơi hoặc phơi khô, cũng có thể đóng hộp. Măng tƣơi của Mạy Chả đƣợc thị trƣờng rất ƣa chuộng vì có vị hơi ngọt rất đặc biệt, măng đầu vụ có thể bán 25.000đ/kg Trong giao thông đối với họ Tre, nứa đƣợc sử dụng làm thuyền, phao và cầu, trong nông nghiệp Tre, nứa đƣợc sử dụng làm nông cụ.Rất nhiều đồ dùng thông thƣờng trong mỗi gia đình ngƣời Việt Nam nhƣ giƣờng, chiếu, bàn, ghế, mành, thúng, mủng, rổ, rá, đến đũa ăn, tăm xỉa răng đều cần đến.
Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, nhạc cụ. từ Tre, nứa ngày càng nhiều và đã trở thành nhu cầu lớn ở trong nƣớc và quốc tế. Tre, nứa dùng vào những việc này tuy không đƣợc thống kê cụ thể, nhƣng ƣớc tính cũng chiếm khoảng 25-30% sản lƣợng khai thác hàng năm. Trong công nghiệp Tre, nứa đƣợc sử dụng làm nguyên liệu dƣới dạng thanh, dăm hoặc sợi, bột 2.
Những nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu chung về tre trúc Các nghiên cứu về tre trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng. Nghiên cứu về các loài tre trúc Ấn độ (Gamble JS, 1986) [21]. Trong đó tác giả mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn độ và một số nƣớc láng giềng nhƣ Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Indonesia.
Tác giả cũng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều các nghiên cứu về phân c 5 loại, các kỹ thuật tạo giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác, chế biên và cả về thị trƣờng tre trúc và các sản phẩm sản xuất từ tre trúc (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn, 2007) [4]. Các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000 m (so với mực nƣớc biển), song tập trung chủ yếu ở vùng thấp tới đai cao trung bình (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005. Tre trúc Việt Nam.
Nxb Nông nghiệp. Các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc đƣợc gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trƣờng sống khác nhau (Dranhsfield S, Widjaja EA, 1995) [21]. Theo Rao and Rao,(1995) [23], cả thế giới có khoảng 1250 loài tre trúc của 75 chi, phân bố ở khắp các châu lục, trừ châu Âu. Châu Á đặc biệt phong phú về số lƣợng và chủng loại tre trúc với khoảng 900 loài của khoảng 65 chi (Rao and Rao 1995; 1999) [23], [24].
Bảng 1 là số liệu năm 1995 về sự đa dạng của các loài tre trúc trên thế giới. Từ đó tới nay có nhiều loài tre trúc mới đã đƣợc tìm ra và phân loại trong đó có Việt Nam làm tăng số loài tre trúc đã đƣợc xác định. Nghiên cứu về phân loại, phân bố Tre trúc với khoảng 1250 loài của 75 chi có đại diện ở mọi châu lục trừ châu Âu. Châu Á đặc biệt giàu về số lƣợng và chủng loại Tre trúc, với khoảng 65 chi và 900 loài (Rao and Rao, 1995) [23], trong đó theo Biswas (1995) [19] thì Việt Nam có tới 92 loài và 16 chi (Bảng 1).
Thành phần và phân bố các loài tre nứa ở miền Bắc Việt Nam, đã đƣa ra danh sách của 45 loài Tre trúc, còn Nguyễn Tử Ƣởng và Nguyễn Đình Hƣng (1995) [16]. Bảo tồn một số loài tre quý hiếm ở Việt nam, thì thông báo rằng có khoảng 150 loài Tre trúc thuộc 20 chi ở Việt Nam. c 6 Các nghiên cứu về tre trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất đa dạng. Đầu tiên phải kể tới ấn phẩm Nghiên cứu về các loài tre trúc Ấn độ (Gamble 1896) [21], trong đó tác giả mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn độ và một số nƣớc láng giềng nhƣ Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Indonesia.
Tác giả cũng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều các nghiên cứu về phân loại, các kỹ thuật tạo giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác, chế biên và cả về thị trƣờng tre trúc và các sản phẩm sản xuất từ tre trúc (Nguyễn Ngọc Bình và Phạm Đức Tuấn 2007), [4]. Các loài tre trúc phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới, từ vùng thấp tới độ cao 4000 m (so với mực nƣớc biển), song tập trung chủ yếu ở vùng thấp tới đai cao trung bình (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2005) [8], Các loài tre trúc có thể mọc hoang dại hoặc đƣợc gây trồng và có một đặc điểm nổi bật là có mặt ở rất nhiều các môi trƣờng sống khác nhau (Dransfield and Widjaja, 1995) [20].