Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu về làng nghề 1. Khái niệm về làng nghề Khái niệm làng nghề được hiểu theo nhiều cách thức khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm về làng nghề, dưới đây là một số quan niệm.
Quan niệm thứ nhất: Dựa theo đề tài “Khảo sát một số làng nghề truyền thống – chính sách và giải pháp” của (Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,1996) thì “làng nghề là một cộng đồng dân cư, một cộng đồng sản xuất nghề TTCN và nông nghiệp ở nông thôn”. Theo quan niệm này, làng nghề được hiểu khá đơn giản, xúc tích và ngắn gọn gồm 3 yếu tố: Là một cộng đồng dân cư, nghề sản xuất TTCN và nông nghiệp ở nông thôn. Đến quan niệm thứ hai: Theo Trần Quốc Vượng (2000) thì “làng nghề là làng ấy tuy vẫn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có 1 số nghề phụ khác, song đã nổi trội 1 số nghề có trình độ tinh xảo với tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông trùm,…cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ủ nghệ, tử ủ nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân tinh” sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công. Quan niệm này đúng với làng nghề truyền thống nhưng đối với làng nghề nói chung còn bất cập bởi đối với những làng nghề mới hoạt động, yêu cầu nổi trội nghề cổ truyền, tinh xảo với 1 tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp,….là điều khó thực hiện.
Quan niệm thứ ba: Một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm theo tiêu chí cụ thể về lao động và thu nhập. Theo đó “làng nghề là những làng đã từng có 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” Dẫn qua (Đỗ Quang Dũng, 2006). Hoặc trong Dự thảo Nghị định của Chính phủ về n 5 một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đệ trình tháng 5 năm 2007 thì “làng nghề là thôn ấp, bản có trên 35% số hộ hoặc lao động tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập từ ngành nghề nông thôn chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng”. Các định nghĩa này đã khắc phục nhược điểm của quan niệm thứ nhất, quan tâm đến tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề, nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề làm cho các nhà hoạch định chính sách khó xử lý khi chế độ ưu đãi đối với làng nghề thay đổi thì phải chăng khái niệm cũng thay đổi.
Quan niệm thứ tư: Theo Dương Bá Phương (2001), thì “làng nghề là làng ở nông thôn có một (hoặc một số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” Quan niệm này nêu lên được 2 yếu tố cơ bản cấu thành của làng nghề là làng và nghề, nêu lên được vấn đề nghề trong làng tách ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập nên phù hợp với điều kiện mới hơn, tránh được hạn chế của quan niệm thứ hai, song vẫn mắc phải hạn chế của quan niệm thứ nhất. Quan niệm thứ năm : Theo Đặng Kim Chi (2005), có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông” Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề. Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau: - Giá trị sản xuất và thu nhập từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng. n 6 - Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động.
- Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người trong làng tham gia. Như vậy, làng nghề là làng trong đó có phần lớn dân cư sống bằng các nghề phi nông nghiệp và thường cùng một nghề chủ yếu. Thu nhập của người dân trong làng phần lớn từ tiểu thủ công nghiệp. Đây trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập của dân cư nông thôn.
Phân loại làng nghề Cho đến nay ngành nghề trong nông thôn rất phong phú và đa dạng, có hàng trăm, ngành nghề khác nhau. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu có thể phân loại làng nghề theo các tiêu thức sau: - Theo lịch sử hình thành có thể phân làng nghề thành 2 loại làng nghề truyền thống và làng nghề mới hình thành. * Làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống là những làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời với những sản phẩm danh tiếng được giữ gìn và truyền lại qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay. * Làng nghề mới hình thành: Làng nghề mới hình thành là do yêu cầu phát triển kinh tế nhằm nâng cao đời sống trên cơ sở vận dụng các tiềm năng sản xuất của địa phương (chủ yếu là giải quyết vấn đề lao động).
Các làng nghề mới hình thành này do còn non kém về các điều kiện sản xuất nên sản phẩm của làng nghề thường là sản phẩm cấp thấp hoặc ở các công đoạn thô. - Xét theo sản phẩm làm ra có thể phân làng nghề thành các loại sau: * Làng nghề sản xuất công cụ thủ công và nguyên liệu cho công nghiệp. Công cụ thủ công được tạo ra chủ yếu là từ nghề rèn (cầy bừa, cuốc, dao liềm, n 7 hái…) và nghề này có hầu hết ở các vùng nông thôn. Các làng nghề chuyên sản xuất công cụ này có nguy cơ phải thu hẹp quy mô sản xuất.
Các loại nguyên liệu như thép cán, thép thỏi…được tạo ra từ việc tái chế các phế liệu được thực hiện ở nhiều làng nghề, ngay cả làng nghề truyền thống. * Làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng dân dụng như hàng đồ đồng (đồ thờ cúng, ấm, nồi, thanh la, nạo bạt, các nhạc cụ bằng đồng, tranh khảm bạc…); Hàng đồ gốm sứ (bình, lọ hoa, chậu hoa, bát đĩa, ấm chén, đồ chơi…); Hàng sơn mài khảm trai (tranh, hộp trang sức…) chất lượng sản phẩm trong các làng nghề thuộc rất nhiều cấp độ khác nhau từ cấp thấp dân dụng đến cao cấp mỹ nghệ. Những ngày này được tiêu thụ trong nước và đã có mặt ở các nước bạn. - Xét theo tính thời vụ có thể phân làng nghề thành 2 loại: Làng nghề hoạt động thường xuyên và làng có nghề hoạt động thời vụ.
Phần lớn các làng nghề hoạt động quanh năm (tuy nhiên đôi lúc do việc tiêu thụ sản phẩm hay thời vụ cung cấp nguyên liệu làm giảm hay tăng mức độ hoạt động). Các làng nghề hoạt động thời vụ tương đối hiếm (chỉ thấy nghề làm hương, nghề này chỉ phục vụ vào các dịp cúng lễ tết,…). - Xét theo mức độ phát triển thì có thể phân làng nghề thành làng nghề đang phát triển mạnh và làng nghề trong quá trình thu hẹp dần quy mô sản xuất. Hầu hết các làng nghề đang trong quá trình phát triển, cải tiến công nghệ, mẫu mã sản phẩm, mở rộng thị trường và mở rộng quy mô sản xuất.
Tuy nhiên cũng có một số làng nghề bị mai một dần, thường là những sản phẩm công nghiệp như cuốc cầy Nghi Khúc, dệt Tương Giang, tranh giấy Đông Hồ. Mỗi cách phân loại đều có các đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại thích hợp. Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trường làng nghề cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm đều có yêu cầu khác nhau n 8 về nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất khác nhau, nguồn và dạng chất thải khác nhau, và vì vậy có những tác động khác nhau đồi với môi trường. Dựa trên các yếu tố tương đồng về ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra thành 6 nhóm ngành chính có nhiều ngành nhỏ.
Mỗi nhóm ngành làng nghề có đặc điểm khác nhau về hoạt động sản xuất sẽ gây ảnh hưởng khác nhau tới môi trường. Biểu đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất Vật liệu xây dựng khai thác đá Các làng nghề khác Dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da Chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ tái chế phế liệu thủ công mỹ nghệ Hình 1.1: Biểu đồ phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất (Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp, 2008) 1. Tiêu chí làng nghề Theo thông tư số 116/2008/TT-BNN ngày 18/12/2008 của BNN&PTNT hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 07/7/2008 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, một số tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống như sau: - Tiêu chí công nhận nghề truyền thống: Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu chí sau: n 9 + Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; + Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; + Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. - Tiêu chí công nhận làng nghề: Làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí sau: + Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; + Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; + Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này. Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn thứ nhất và thứ hai của tiêu chí công nhận làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống.