Đặt vấn đề Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, khoa học – kĩ thuật và trong quá trình thực hiện công nghệp hóa hiện đại hóa đất nước, thì vấn đề môi trường sức khỏe của cộng đồng là nền tảng và là động lực để phát triển và tham gia hội nhập của mọi quốc gia. Cùng với sự gia tăng dân số thì nhu cầu về giáo dục, kinh tế văn hóa xã hội, đặc biệt là nhu cầu khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, các bệnh viện ngày càng gia tăng, đây được coi là vấn đề quan trọng và cấp thiết. Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế năm 2014 thì ở Việt Nam có khoảng 1356 bệnh viện với công suất hơn 260.058 giường bệnh.[2] Hoạt động của bệnh viện ngoài mang lại phúc lợi cho xã hội và con người thì quá trình hoạt động cũng tác động tiêu cực tới môi trường đặc biệt là ô nhiễm do nước thải y tế gây ra. Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành.
Nhưng hầu hết các bệnh viện ở nước ta vẫn chưa được trang bị các phương pháp xử lý đạt tiêu chuẩn, nhiều cơ sở còn tình trạng xả thẳng ra ngoài môi trường mà chưa qua quy trình xử lý nào, hoặc chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định. Với tính chất độc hại, nước thải bệnh viện có sự lan truyền rất mạnh các vi khuẩn gây bệnh nhất là nước thải được thải ra từ các phòng khoa, bệnh viện lây nhiễm. Ngoài ra các chất kháng sinh và thuốc sát trùng xuất hiện cùng với dòng nước thải sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có lợi và có hại gây mất cân bằng sinh thái trong hệ các vi khuẩn tự nhiên của môi trường nước thải, làm mất khả năng xử lý nước thải của vi sinh vật, nếu không quản lý tốt có thể gây ra những nguy hại cho con người và môi trường. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn ra đời từ những năm đầu của thế kỷ XX, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài giờ đây Bệnh viện đã trở thành một trung tâm khám chữa bệnh lớn nhất tỉnh Lạng Sơn.
Bệnh viện đã và đang tiếp tục phát triển để ngày càng đáp ứng tốt hơn sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho người dân. Hiện nay Bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn là Bệnh viện hạng II, với tổng số giường bệnh 663 (70 giường xã hội hóa) với tổng số 34 khoa phòng, các e công trình phụ trợ. Hằng năm phục vụ khám chữa một số lượng lớn bệnh nhân và cùng với đó, bệnh viện thải ra môi trường một lượng lớn nước thải chứa nhiều thành phần độc hại gây ảnh hưởng tới sức khỏe người dân xung quanh. Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nước thải ảnh hưởng tới môi trường, được sự đồng ý và giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Lạng sơn, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm tỉnh Lạng Sơn.
Đặc biệt dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo PGS.TS Đỗ Thị Lan, em tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn” 1. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Tìm hiểu hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện. - Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải của bệnh viện. - Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Nghiên cứu sơ lược về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn. - Xác định tổng lượng nước thải và hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện. - Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của bệnh viện. - Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước thải của bệnh viện.
Yêu cầu của đề tài. - Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan. - Kết quả phân tích phải chính xác. - Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho người học tập nghiên cứu củng cố lại những kiến thức đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. e - Nâng cao kiến thức, kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá được lượng nước thải phát sinh, tình hình thu gom và xử lý nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn. - Cảnh cáo nguy cơ ô nhiễm nước thải y tế nếu không được thu gom và xử lý theo quy định. - Đề xuất một số biện pháp khả thi giúp cho công tác thu gom và xử lý nước thải y tế một cách phù hợp và khoa học với điều kiện của bệnh viện nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. e PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 24/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015. - Luật tài nguyên nước năm 2012 được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/06/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013. - Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 thánh 12 năm 2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27 tháng 07 năm 2004 của chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước. - Nghị định 142/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. - Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 05 năm 2005 của bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thi hành Nghị định 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 07 năm 2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguốn nước. - Thông tư số 57/2013/TT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường - Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng 08 năm 2014 của chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải.
- Thông tư số 12/2014/TT-BTNMT ngày 17 tháng 2 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định kỹ thuật điều tra, đánh giá tài nguyên nước mặt. - Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế ( số 43/2007/QĐ-BYT) ( Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2005). e - Quyết định 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/06/2006 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020. - Quyết định 81/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
- QCVN 28:2010/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế. - Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Một số TCVN, QCVN liên quan tới chất lượng nước: - TCVN 6663-1:2011 ( ISO 5667-3:20006) - Chất lượng nước – Phần 1. Hướng dân lập chương trình lấy mẫu và kỹ thuật lấy mẫu.
- TCVN 6663-3:2008 ( ISO 5667-3:2006) – Chất lượng nước – Lấy mẫu. Hướng dẫn bảo quản mẫu và xử lý mẫu. - TCVN 5999:1995 ( ISO 5667-10:1992) – Chất lượng nước – lấy mẫu. Hướng dẫn lấy mẫu nước thải.
- TCVN 5945:2005: Nước thải công nghiệp – Tiêu chuẩn thải. - TCVN 5499:1995: Chất lượng nước – Phương pháp uyncle (winkler) xác định oxy hòa tan. - TCVN 6001-1:2008 Chất lượng nước – xác định nhu cầu oxy sinh hóa sau n ngày (BODn). - TCVN 4565-88 Nước thải – phương pháp xác định oxy hóa.
-TCVN 6492 : 2011: Chất lượng nước – xác định pH. - TCVN 4557 : 1998: chất lượng nước – phương pháp xác định nhiệu độ. - TCVN 6177 : 1996 Chất lượng nước – phương pháp xác định sắt bằng phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1. - TCVN 6185 : 2008 Chất lượng nước – kiểm tra và xác định độ màu.
- QCVN 08 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. e - QCVN 09 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm. - QCVN 14 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải sinh hoạt. - QCVN 40 : 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước thải công nghiệp.
Cơ sở khoa học * Khái niệm về môi trường Theo điều 3 khoản 1, Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.” * Khái niệm về ô nhiễm môi trường Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”. Ô nhiễm môi trường làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặc tính vật lý, hóa học, nhiệt độ, sinh học, chất hòa tan, chất phóng xạ… ở bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định. Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại, gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn hay sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó. Chất gây ô nhiễm có thể là chất rắn (như rác) hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất thải của dệt nhuộm, rượu, chế biến thực phẩm), hoặc chất khí (SO2 trong núi lửa phun, NO2trong khói xe, CO từ khói đun …), các kim loại nặng như chì, đồng … cũng có khi nó vừa ở thể hơi vừa ở thể rắn như thăng hoa hay ở dạng trung gian.