chương 1 là trình bày tóm tắt một số công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp cũng như gián triếp đến hệ thống KSNB, QTRR. Từ đó tác giả chỉ ra khe trống nghiên cứu để xác định vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu làm định hướng chung cho luận văn. Qua việc tổng hợp, đánh giá các công trình nghiên cứu tác giả đã đã kế thừa và học hỏi được phương pháp nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu để áp dụng vào luận văn của mình. 123doc 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 2.1 Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống KSNB trên thế giới trải qua nhiều giai đoạn từ giai đoạn sơ khai, hình thành, phát triển đến giai đoạn hiện đại.
Giai đoạn sơ khai Trong cuộc cách mạng công nghiệp các công ty có nhiều nhu cầu về vốn để phát triển từ đó dẫn đến nhu cầu về quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn từ đó thuật ngữ KSNB bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này. Năm 1905, Robert Montgommery đưa ra một số vấn đề liên quan đến KSNB trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”. Năm 1929, trong một công bố của Cục Dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ, KSNB được đề cập chính thức, theo đó, KSNB được định nghĩa là công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách. Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa về KSNB là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách Giai đoạn hình thành Năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB, theo đó KSNB được định nghĩa “ KSNB là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”.
Tiếp theo đó AICPA đã ban hành và soạn thảo nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm khác nhau về KSNB như thủ tục kiểm soát SAP (1958), SAP 33 (1962), SAP 54 (1972), SAS 1 (1973). 123doc 14 Trong suốt những thời kỳ trên, khái niệm về KSNB đã không ngừng được mở rộng ra khỏi mục tiêu bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, thì KSNB chỉ mới dừng lại như là một phương tiện nhằm phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC. Giai đoạn phát triển Nhiều hiệp hội về kế toán trong thời gian này cũng được thành lập như Hiệp hội kế toán viên công chứ Hoa Kỳ, Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ, Hiệp hội quản trị viên tài chính, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ, Hiệp hội kế toán viên quản trị đã tài trợ cho Ủy ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên BCTC (ủy ban Treadway, 1985) để nghiên cứu gian lận trên BCTC và kiến nghị giảm các gian lận trên BCTC.
Tiếp theo đó Ủy ban COSO được thành lập vào năm 1985. Ủy ban COSO đã ban hành báo cáo COSO 1992, đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra Khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Báo cáo COSO đưa ra 5 bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB là: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Giai đoạn hiện đại Báo cáo COSO tuy chưa thực hoàn chỉnh nhưng tạo lập được cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB tạo tiền đề cho hàng loạt các nghiên cứu về KSNB ở nhiều lĩnh vực khác nhau: - Phát triển về phía QTRR: Năm 2001 dựa trên báo cáo COSO 1992, COSO tiếp tục triển khai nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro DN (ERM) trên cơ sở của báo cáo COSO 1992.
ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận: Môi trường kiểm soát, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện tiềm tàng, đánh giá rủi ro, phản ứng rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Đến 2004, ERM đã được chính thức ban hành, theo đó ERM không nhằm thay thế cho báo cáo COSO 1992 mà chỉ được xem là cánh tay nối dài của báo cáo này. - Phát triển cho DN nhỏ: năm 2006, Ủy ban COSO nghiên cứu và ban hành hướng dẫn “KSNB đối với BCTC – Hướng dẫn cho các công ty đại chúng quy mô nhỏ”. 123doc 15 - Phát tiển theo hướng công nghệ thông tin: Năm 1996, hiệp hội về kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin ban hành bản tiêu chuẩn có tên “Các mục tiêu kiểm soát trong công nghệ thông tin và các lĩnh vực liên quan”.
- Phát triển theo hướng kiểm toán độc lập: Các chuẩn mực kiểm toán của Hoa Kỳ cũng chuyển sang sử dụng báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, bao gồm: SAS 78 (1995), SAS 94 (2001), ISA 315, IAS 265. - Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ: Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ định nghĩa các mục tiêu KSNB bao gồm: độ tin cậy và tính trung thực của thông tin; tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, luật pháp và quy định; bảo vệ tài sản; sử dụng hiệu quả các nguồn lực, hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động. - Phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể: Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực đã có những nghiên cứu chi tiết về KSNB trong ngành nghề của mình. Báo cáo Basel (1998) đã đưa ra công bố về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng.
Báo cáo này không đưa ra những lý luận mới mà chỉ vận dụng các lý luận cơ bản của COSO vào lĩnh vực ngân hàng. - Hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB: dựa trên khuôn mẫu COSO 1992, dự thảo hướng dẫn giám sát hệ thống KSNB (Exposure) được đưa ra nhằm các tổ chức tự giám sát chất lượng của hệ thống KSNB. - Báo cáo COSO 2013: Ủy ban COSO đã ban hành khuôn mẫu hệ thống KSNB mới dựa trên các nguyên tắc cũ kết hợp thêm các hướng dẫn minh họa để giải thích các khái niệm trong khuôn khổ, đồng thời thiết kế lại hệ thống KSNB đáp ứng được với sự phức tạp cũng như thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế. Do đó, báo cáo COSO 2013 được xem là thay thế cho báo cáo COSO 1992 nhằm giúp cho DN xây dựng hệ thống KSNB hiện hữu trong bối cảnh hiện nay.2 Khái niệm về hệ thống KSNB Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hệ thống KSNB do các tổ chức kế toán, kiểm toán đưa ra nhưng khái niệm được chấp nhận rộng rãi nhất vẫn là khái niệm KSNB theo báo cáo COSO 1992, và hiện nay được sửa đổi cập nhập thành báo cáo COSO 2013.
123doc 16 Theo báo cáo COSO 2013: “KSNB là một quy trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: sự hữu hiện và hiệu quả hoạt động, sự tin cậy của BCTC, sự tuân thủ các luật lệ và quy định”.3 Mục tiêu hệ thống KSNB Mục tiêu của hệ thống KSNB theo báo cáo COSO 1992 và COSO 2013 đều nhằm đạt được các mục tiêu sau: - Mục tiêu hoạt động: liên quan tới sự hiện hữu và hiệu quả hoạt động trong đó bao gồm các mục tiêu về hoạt động và tài chính đồng thời đảm bảo tài sản không bị thất thoát. - Mục tiêu về báo cáo: nhấn mạnh đến tính trung thực và độ tin cậy của các thông tin trên BCTC. - Mục tiêu tuân thủ: liên quan tới việc tuân theo các quy định pháp luật chi phối tới hoạt động của DN.4 Lợi ích và hạn chế của hệ thống KSNB Lợi ích của hệ thống KSNB: Một hệ thống KSNB hữu hiệu là yếu tố rất quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của DN. Hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ đem lại những lợi ích sau: - Đảm bảo tính trung thực và hợp lý của các số liệu kế toán và BCTC.
- Giảm bớt rủi ro gian lận hoặc trộm cắp đối với công ty do bên thứ ba hoặc nhân viên của công ty gây ra đồng thời bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng. - Giảm bớt rủi ro sai sót không cố ý của nhân viên mà có thể gây tổn hại cho công ty. - Đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật, nội quy, quy chế, chính sách và quy trình kinh doanh. - Đảm bảo DN hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đạt ra, đồng thời bảo vệ quyền lợi và gây dựng lòng tin đối với các bên thứ ba.
Những hạn chế của hệ thống KSNB 123doc 17 Một hệ thống KSNB được thiết kế hoàn hảo đến đâu thì cũng không thể ngăn ngừa, phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra bởi những hạn chế vốn có của nó. Các hạn chế của hệ thống KSNB như sau: - Hệ thống KSNB được xem xét trong mối quan hệ giữa những lợi ích đem lại và chi phí bỏ ra. Các nhà quản quản lý sẽ không muốn bỏ ra một khoản chi phí khi mà các thủ tục kiểm soát không đem lại lợi ích hoặc mang lại lợi ích ít hơn chi phí bỏ ra. - Các thủ tục kiểm soát thường được thiết lập cho các nghiệp vụ thường xuyên hơn là các nghiệp vụ không thường xuyên.
- Khả năng hệ thống KSNB không phát hiện được do sự thông đồng của các nhân viên với ban quản lý hoặc nhân viên với những người bên ngoài DN. - Nhà quản lý lạm dụng các đặc quyền của mình bởi vì hệ thống KSNB do nhà quản lý cấp cao thiết lập và điều hành nên hầu như nó chỉ có tác dụng kiểm soát đối với nhân viên cấp thấp hơn và sẽ bị vô hiệu hóa với cấp cao nếu như họ cố tình gian lận. - Sự thay đổi cơ chế và yêu cầu của nhà quản lý làm cho các thủ tục kiểm toán bị vi phạm hay lạc hậu.