CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ DẢI VEN BIỂN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Dải ven biển 1. Trên thế giới Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương với thuật ngữ “dải ven biển” của Việt Nam, có các thuật ngữ sau: - Nga: vùng duyên hải - Pháp: vùng ven biển (littoral hoặc cote) - Anh: vùng ven biển (Coastal zone) - Trung Quốc: Vùng duyên hải hay vùng diên hải Tại hội thảo Khoa học Quốc gia: “Nghiên cứu và quản lý vùng ven biển” tháng 12 năm 1992, Giáo sư Joe Baker của Viện Khoa học Biển Australia đã dẫn ra một số định nghĩa về dải ven biển như sau: Thứ nhất: “Dải ven biển là độ dài đường bờ biển của đất nước” - “The lineal length of the country’s coastline”.
Ông cho rằng định nghĩa này chưa thích đáng, vì nó không thể hiện được sự tương tác giữa biển và lục địa cũng như những biến đổi diễn ra do mối tương tác đó [25]. Tiếp đến ông lại dẫn ra định nghĩa khác: “Vùng ven biển là dải đất rộng 3km dọc đường bờ biển, bao gồm phần kéo dài của biển đến ranh giới ảnh hưởng của thủy triều vào trong đất liền”. Tuy định nghĩa này cũng đã đề cập đến tương tác biển - lục địa, thông qua tác động của thủy triều, song vẫn có những hạn chế, nhất là khi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sử dụng đất đai, thổ nhưỡng và các vấn đề về kinh tế - xã hội. của dải ven biển.
Sau cùng ông đưa ra định nghĩa: “Vùng ven biển là vùng đất - biển kéo dài từ giới hạn phía trên của lưu vực các con sông, suối. chảy vào biển, tới giới hạn của lục địa”. Với định nghĩa này thì vùng ven biển nước ta có phạm vi rất rộng và hầu như bao trùm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Do đó, việc xác định nội dung nghiên cứu, trọng điểm nghiên cứu và quy hoạch phát triển vùng ven biển có nhiều khó khăn, không cụ thể và không sát với thực tế.
Trong chương trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Á, khi Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường 3 Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững đề cập đến việc phân định ranh giới của dải ven biển, các nhà nghiên cứu của các nước ASEAN đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa các vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn đề địa kinh tế - xã hội trong việc phân định dải ven biển. Với cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu cho rằng vùng ven biển là vùng kinh tế - xã hội và nhân văn có liên quan đến quá trình khai thác tài nguyên biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Malayxia và Phillippine thì xác định ranh giới tương đối của vùng ven biển là vùng nước sâu 50m trên biển đến nơi có hệ sinh thái nước lợ tồn tại (khoảng 10km) còn Bangladet lại xác định vùng ven biển từ đường đẳng sâu 100 m đến vùng nước lợ ở các cửa sông lúc triều lên, vào sâu trong lục địa khoảng 12 km .[25] Trong các nghiên cứu hỗ trợ cho lĩnh vực Môi trường ở Việt Nam, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN cũng rất quan tâm đến vùng ven biển và cho rằng “Việc xác định thế nào là vùng ven biển rất khó, song có thể nói đó là vùng tính sâu vào nội địa tới điểm ảnh hưởng của thủy triều lên các con sông, suối và các vùng đất ngập nước, hoặc tính sâu vào nội địa 10 km, tùy theo khoảng cách nào lớn hơn”. Cách hiểu này là tương đối phù hợp với hướng nghiên cứu những vấn đề về điều kiện tự nhiên và tài nguyên vùng ven biển.
song đối với các nghiên cứu về dân cư, kinh tế - xã hội của lãnh thổ này lại gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập và tính toán các số liệu thống kê [3]. Trong “Từ điển bách khoa các thuật ngữ Địa lý tự nhiên (bốn thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Đức), vùng ven biển được định nghĩa như sau: “Vùng ven biển là dải ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến đặc trưng của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại. Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm miền duyên hải - là dải lục địa có các thềm biển cổ, dải bờ - nơi có các dạng bờ hiện đại, và ven bờ biển là nơi có các dạng bờ cổ bị chìm ngập” [3]. Định nghĩa này trình bày khái niệm theo quan điểm địa mạo, địa lý tự nhiên.
Cũng theo quan điểm này, một số tác giả khác sử dụng đường đẳng cao 25m làm ranh giới phía trong của vùng ven biển. Thực tiễn nghiên cứu cho thấy, ở phạm vi rộng hơn thì cách xác định ranh giới vùng ven biển như trên là chưa bao quát được Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường 4 Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững hết những đối tượng nghiên cứu mà các nhà khoa học và quản lý quan tâm, nhất là trong các lĩnh vực khoa học Địa lý kinh tế - xã hội, kinh tế học và nhân khẩu học. Phần lớn việc phân định ranh giới của dải ven biển dựa trên các căn cứ về tự nhiên. Riêng một số nghiên cứu về kinh tế - xã hội lại thiên về việc phân định theo ranh giới hành chính.
Ở Việt Nam Trong báo cáo khoa học của Uỷ ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC), GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các Chương trình điều tra nghiên cứu biển của Việt Nam từ năm 1997 - 2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển như sau: “ Vùng ven biển Việt Nam chạy dài trên 3200 km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh và thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước. Theo cách hiểu như trên thì vùng ven biển nước ta được xác định bởi ranh giới hành chính các huyện có bờ biển. Cách xác định này giúp cho việc thu thập tài liệu, số liệu phục vụ các nghiên cứu về kinh tế - xã hội và dân cư rất thuận lợi. Song cũng có những hạn chế, vì những hiện tượng và đối tượng nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên lại không bị hạn chế bởi ranh giới hành chính.
Vì vậy, một số chuyên gia khác đã sử dụng giới hạn nhiễm mặn của đất và nước để làm ranh giới của vùng ven biển. Trong đề tài: “Đánh giá kinh tế tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế đến năm 2005” mã số 48B.02, do viện Kế hoạch dài hạn và phân bố LLSX thực hiện (1986 - 1990), các tác giả đã xác định vùng ven biển bao gồm dải đất liền ven biển tạm giới hạn bằng ranh giới hành chính của các huyện ven biển (từ Bắc xuống Nam có 105 huyện ven biển thuộc 24 tỉnh thành và đặc khu, trong đó có 3 thành phố và thị xã và 5 huyện đảo, với diện tích 5,9 triệu ha, bằng 18,1% diện tích lãnh thổ của cả nước) và phần trên biển gồm toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam (trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực ven bờ, từ độ sâu 50m trở vào)[25]. Trong đề án Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, vùng ven biển và các hải đảo Việt Nam đến năm 2010 do Bộ Kế hoạch và đầu tư chủ trì (1995 - 1996), khi xác định phạm vi không gian quy hoạch, các tác giả cho rằng: “Kinh tế biển là Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường 5 Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững sự kết hợp hữu cơ giữa các hoạt động kinh tế trên dải đất liền ven biển, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò vùng khai thác nguyên liệu, là môi trường cho các hoạt động vận tải, du lịch biển ., còn toàn bộ các hoạt động tổ chức sản xuất và phục vụ khai thác biển lại nằm trên đất liền ven biển. Do vậy, khi nói đến kinh tế biển không thể tách rời vùng biển với vùng ven biển và ngược lại”.
Trong đề án nghiên cứu điều tra cơ bản cấp nhà nước: “Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường tài nguyên nước dải ven biển Việt Nam phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường”, do viện Địa lý, Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia thực hiện (1996 - 1999), các tác giả đã coi dải ven biển như “mặt phố” của nước ta. Mặc dù trong nội dung của đề án, các tác giả không đưa ra một định nghĩa hay vạch giới hạn cụ thể của vùng ven biển. Song, trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đã vận dụng linh hoạt, kết hợp sử dụng ranh giới hành chính các huyện có đường bờ biển với việc phân tích các mối quan hệ tương tác biển - lục địa, các điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế xã hội của các huyện gần bờ biển liền kề với các huyện có đường bờ biển để chọn thêm các huyện xếp vào lãnh thổ nghiên cứu - Vùng ven biển.11: “Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển Việt Nam. Đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm” (2004) đã đưa ra khái niệm dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển .) được định nghĩa là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn gốc phát sinh, về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hóa.
Có thể nói dải ven biển là một khu vực động lực, thường xuyên biến đổi và là khu vực hết sức nhạy cảm đối với các tác động của tự nhiên cũng như các tác động của con người, mọi hoạt động kinh tế - xã hội của con người diễn ra ở ngoài biển và trên các khu vực lân cận trong chừng mực nhất định đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến dải ven biển. Theo quan điểm của nhiều tác giả, ranh giới của dải ven biển bao gồm cả không gian trên biển và không gian trên đất liền ven biển.