CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về dịch vụ sinh thái 1. Dịch vụ sinh thái “Dịch vụ sinh thái” được định nghĩa là những lợi ích mà con người được hưởng lợi từ các hệ sinh thái (MA, 2005, p. Chúng được xem xét như là các thành phần của tự nhiên mà con người bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp thưởng thức, tiêu thụ hoặc sử dụng để duy trì hoặc nâng cao giá trị đời sống của mình (Boyd & Banzhaf, 2007).
Hiện tại, giới nghiên cứu vẫn chưa đạt được sự nhất trí cho việc phân loại dịch vụ sinh thái theo từng nhóm (Haines-Young & Potschin, 2011). Cách phân loại được sử dụng rộng rãi nhất được đề xuất bởi Millennium Ecosystem Assessment và được chia thành bốn nhóm chính: • Dịch vụ cung cấp: Các sản phẩm hữu hình mà mọi người có được từ thiên nhiên để tiêu thụ/sử dụng trực tiếp (ví dụ: thực phẩm, nước uống, gỗ và củi). • Dịch vụ điều tiết: Các quy trình điều chỉnh hoạt động của các hệ sinh thái mà con người được hưởng lợi (ví dụ: quy định chất lượng không khí, điều tiết nước và chống xói mòn). • Dịch vụ văn hóa: Lợi ích phi vật chất mà con người có được từ hệ sinh thái thông qua phát triển nhận thức, làm giàu tinh thần, giải trí hoặc cảnh quan, thẩm mỹ (ví dụ: giá trị tôn giáo, quan hệ xã hội, ý thức về nơi nhận dạng, không gian giải trí).
• Các dịch vụ hỗ trợ: Những dịch vụ cần thiết cho việc cung cấp năng lượng sản xuất tái tạo các giá trị sinh thái, hoạt động như các quá trình tự nhiên rất dài và có tác động là gián tiếp, và thường không được chú ý đến (ví dụ: quá trình quang hợp, quá trình hình thành đất, hấp thụ cacbon,. 5 ĐIỀU TIẾT Chất lượng không khí, khí hậu, nước mưa chảy tràn, xói lở, thụ phấn,… HỖ TRỢ Chu trình dinh dưỡng, tuần hoàn nước, cấu tạo địa chất, quang hợp VĂN HÓA CUNG CẤP Giá trị tôn giáo, Thức ăn, gỗ, nhiên liệu quan hệ xã hội, du lịch sinh khối, nước sạch và sinh thái, … dược liệu (Nguồn: Millennium Ecosystem Assessment, 2005) Hình 1. Sự phân chia và mối liên hệ giữa các nhóm dịch vụ sinh thái Quy mô của các loại hình dịch vụ sinh thái này có thể trải dài từ cấp độ địa phương cho đến toàn cầu. Tuỳ thuộc tính chất, mức độ và giá trị mà các dịch vụ này mang lại.
Sơ đồ bên dưới là ví dụ cho chúng ta một cái mình phổ quát nhất về mối tương quan giữa dịch vụ sinh thái rừng (đối tượng nghiên cứu của đề tài) đối với con người và không gian sinh sống của họ. CỘNG ĐỒNG Thụ phấn Carbon Sức khoẻ Chất lượng nguồn nước Du lịch Giải trí Gỗ Lâm sản ngoài gỗ CÁ NHÂN ĐỊA PHƯƠNG QUỐC TẾ (Nguồn: Millennium Ecosystem Assessment, 2005) Hình 1. Phạm vi và đối tượng của các dịch vụ hệ sinh thái rừng 6 Việc đưa ra định nghĩa về các giá trị của hệ sinh thái rừng dưới dạng "dịch vụ" cũng đồng nghĩa với việc chúng ta hoàn toàn có thể xem xét chúng dưới hình thức là một loại hàng hoá. Lẽ dĩ nhiên, một khi đã gọi là hàng hoá - trên thực tế loại hình hàng hoá này tương đối đặc biệt - thì chúng hoàn toàn có khả năng được định giá và tham gia vào thị trường.
Tính chất đặc trưng nhất của loại hàng hoá này chính là sự có sẵn và dễ dàng tiếp cận và sử dụng. Từ xa xưa, chúng ta tiếp cận rừng trong nhận thức vật sở hữu chung. Vì vậy ý thức phải chi trả cho các giá trị từ rừng dường như bị xem nhẹ, không cần nhắc đến. Trong khoảng hơn 30 năm trở lại đây, các công trình nghiên cứu liên quan đến dịch vụ sinh thái rừng đã định lượng được các giá trị này.
Đây là bước đệm và cũng là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách có thể đề ra các khung pháp lý cho việc chi trả khi tiếp cận và sử dụng các lợi ích từ rừng. Dịch vụ sinh thái rừng tại Việt Nam Theo báo cáo thường niên năm 2019 của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, tính đến cùng kỳ năm 2018 Việt Nam có 14.295 ha rừng (chiếm 41,65% tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước), trong đó 10.525 ha rừng tự nhiên (gồm rừng nguyên sinh và rừng tái sinh tự nhiên) và 4.770 ha rừng trồng. Bảng bên dưới thể hiện diện tích các hệ sinh thái rừng theo vùng sinh thái và theo mục đích sử dụng tại Việt Nam. Diện tích rừng theo vùng sinh thái năm 2018 Rừng tự Rừng trồng Tổng diện Tỷ lệ che Vùng nhiên (ha) (ha) tích (ha) phủ (%) Tây Bắc 1.544 6,02 Bắc Trung Bộ 2.601 57,65 Nam Trung Bộ 1.322 46,01 7 Đông Nam Bộ 257.719 19,44 Tây Nam Bộ 74.152 5,26 Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2019) Căn cứ theo cách phân loại của Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (Millenium Ecosystem Assessment, 2005) đã đề cập ở trên thì dịch vụ sinh thái rừng tại Việt Nam cũng được chia thành 4 loại: Dịch vụ cung cấp: Đây là nhóm dịch vụ có thể dễ dàng nhìn nhận và tiếp cận nhất khi đề cập đến dịch vụ sinh thái rừng.
Thông thường chúng được chia thành 3 nhóm: gỗ, củi và lâm sản ngoài gỗ (LSNG). Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2017), mỗi năm các hệ sinh thái rừng của Việt Nam cung cấp khoảng 18 triệu m3gỗ rừng trồng và rừng tự nhiên. Củi đốt cũng là nguồn cung ứng lượng nhiên liệu đốt khổng lồ cho hoạt động của các ngành công nghiệp và hoạt động đời sống. Đến thời điểm hiện tại, khoảng 3.830 loài dược liệu (trong đó, 1.800 loài có giá trị dược lý), 500 loài tinh dầu, 620 loài nấm, 820 loài tảo, 40 loài mây, 76 loài cho nhựa thơm, 600 loài cho tannin, 823 loài cho dầu béo, 186 loài đặc hữu đã được tìm thấy ở Việt Nam.
Lâm sản ngoài gỗ cũng được ứng dụng nhiều trong các hoạt động đời sống từ thực phẩm, dược liệu cho đến các loại tính dầu chiết xuất, v. Việc khai thác LSNG thường ít được chú ý hơn do tính chất phân bố rộng cùng trữ lượng không quá nhiều. Tuy nhiên đây cũng là lý do khiến giá thành các măt hàng này thường sẽ cao hơn nhiều so với các sản phẩm cùng loại nhưng khác xuất xứ. Dịch vụ điều tiết: Phần lớn các hệ sinh thái rừng tại các VQG ở Việt Nam đều có chức năng chính là phòng hộ đầu nguồn nhờ khả năng giữ đất, kiểm soát xói mòn, ngăn ngừa sự bồi lắng và tích tụ bùn, cát trong dòng chảy.
Hệ sinh thái rừng cũng được biết đến như là một công cụ hữu dụng trong việc điều tiết dòng nước, giảm thiểu lũ lụt và cải thiện chất lượng nước. Cùng với khả năng điều tiết dòng chảy cũng phải đề cập đến khả năng giữ đất bề mặt, đây cũng là lý do hàng năm các rừng ngập mặn đều được bồi đắp thêm từ vài chục đến vài năm ha. 8 Các hệ sinh thái rừng với nhiều tầng tán có khả năng trữ nước trong mùa mưa và cấp nước trong mùa khô rất hiệu quả. Những năm gần đây, lũ lụt đã xảy ra liên tiếp tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho tính mạng và tài sản của người dân.
Lũ lụt gia tăng có một phần nguyên nhân là do nạn phá rừng ở các khu vực đầu nguồn (Bann et al, 2017). Dịch vụ văn hóa: Các nghiên cứu nhân chủng học tại Việt Nam đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa hệ sinh thái tự nhiên với sinh kế và văn hóa của người dân tộc bản địa. Phần lớn các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng văn hoá và tinh thần của người dân sinh sống xung quanh khu vực đều có liên quan đến rừng. Sự đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên cũng là một trong những yếu tố làm gia tăng cơ hội cho sự phát triển của ngành công nghiệp du lịch.
Nếu có thể kết hợp quảng bá các bản sắc địa phương thì đây chính là kênh tạo thêm thu nhập cho cộng đồng địa phương, giúp cải thiện cuộc sống (phần lớn người dân sống cận kề rừng có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn GDP cả nước). Dịch vụ hỗ trợ: Đây là loại hình dịch vụ ít được quan tâm do phần lớn chúng không có tương tác trực tiếp với con người mà phải thông qua các tác nhân khác. Các chu trình của hệ sinh thái cũng cố cho các dịch vụ cung cấp, điều tiết và văn hóa nêu trên. Ví dụ điển hình là sự thụ phấn của nhiều loại cây trồng phụ thuộc vào việc môi trường xung quanh có duy trì được đủ số lượng các loài thụ phấn hay không; sự hình thành đất và tái tạo dinh dưỡng thành phần đất.
Các dịch vụ hỗ trợ của hệ sinh thái rừng không chỉ ảnh hướng đến địa điểm và hình thức canh tác mà còn ảnh hưởng tới giá trị kinh tế của diện tích đất canh tác. Mặc dù đất canh tác được định giá một phần bởi giá trị của cây trồng nhưng giá trị kinh tế của đất canh tác cũng phụ thuộc vào chi phí sản xuất có liên quan đến dịch vụ hệ sinh thái như tăng cường độ phì, độ xốp của đất hay kiểm soát dịch bệnh (Bann et al, 2017). Khái quát mà nói, các nghiên cứu về dịch vụ sinh thái rừng tại Việt Nam đều chỉ dừng lại ở mức tham khảo. Đa số các VQG vẫn chưa chính thức áp dụng 9 vào thực tiễn việc chi trả khi hưởng dụng tài nguyên từ rừng của các tổ chức, cá nhân sử dụng chúng.
Dù vậy, vẫn có điểm sáng từ việc thu phí hoạt động du lịch có tổ chức tại VQG và được duy trì ở quy mô không quá lớn. Tổng quan nghiên cứu về lượng giá giá trị kinh tế hệ sinh thái rừng 1. Các nghiên cứu về lượng giá hệ sinh thái rừng trên thế giới Hầu hết các quốc gia trên thế giới, từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển ngày càng ghi nhận các kết quả và nghiên cứu về giá trị mà rừng và hệ sinh thái rừng mang lại: • Giá trị kinh tế của đa dạng sinh học tại Mỹ được định giá ít nhất là 57 tỷ USD, trong đó 0,7% tổng giá trị đến từ việc sản xuất phân bón tự nhiên, 4,3% từ hoạt động thụ phấn và 8% từ giá trị kinh tế từ yếu tố dịch tễ liên quan đến động vật ăn cỏ bản địa và 87% giá trị đến từ dịch vụ giải trí (Losey và Vaughan, 2006).