CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHIÊN LIỆU THAY THẾ TRÊN ĐỘNG CƠ XĂNG 1. Sự cần thiết sử dụng nhiên liệu thay thế 1. Sự cạn kiệt nguồn nhiên liệu hóa thạch Từ những năm 1849 - 1850, con người đã biết chưng cất dầu mỏ để lấy ra dầu hỏa, còn xăng là thành phần chưng cất nhẹ hơn dầu hỏa thì chưa hề được sử dụng đến và phải đem đổ đi một nơi thật xa. Lúc đó con người tạo ra dầu hỏa với mục đích thắp sáng hoặc đun nấu đơn thuần.
Nhưng với sự tiến hóa của khoa học và kỹ thuật, từ việc sử dụng những động cơ hơi nước cồng kềnh và hiệu quả thấp, con người đã tìm cách để sử dụng xăng và dầu diesel cho động cơ đốt trong, loại động cơ nhỏ gọn hơn nhưng có hiệu quả cao hơn hẳn. Cùng với những khám phá khoa học vĩ đại khác, sự phát minh ra động cơ đốt trong sử dụng xăng và dầu diezel đã thúc đẩy xã hội loài người đạt những bước phát triển vượt bậc, đem đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc và văn minh cho hàng tỷ người trên thế giới. Những hiệu quả và giá trị của dầu mỏ và động cơ đốt trong mang lại thật sự không ai có thể phủ nhận. Nguồn năng lượng chúng mang lại hầu như là chiếm ưu thế hoàn toàn.
Do vậy mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều muốn chiếm ưu thế và chủ động về nguồn dầu mỏ. Cuộc khủng hoảng năng lượng vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20 đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng chiến lược của dầu mỏ đối với mỗi quốc gia và cho toàn thế giới. Nhưng theo dự đoán của các nhà khoa học thì với tốc độ khai thác hiện nay, trữ lượng dầu mỏ còn lại của Trái Đất cũng chỉ đủ cho con người khai thác trong vòng không quá 40 năm nữa. Phát thải độc hại của động cơ sử dụng nhiên liệu hóa thạch Bên cạnh những hậu quả khi chúng ta sử dụng dầu mỏ, việc sử dụng động cơ đốt trong gây ra các chất thải khí làm ô nhiễm không khí, làm thủng tầng ôzôn, gây hiệu ứng nhà kính [1, 2].
Trong các chất độc hại thì CO, NO x, HC do các loại động cơ thải ra là nguyên nhân chính gây ô nhiễm bầu không khí, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Do đó, con người đang đứng trước một thách thức lớn là phải có nguồn nhiên liệu thay thế [3,4]. Các khí thải động cơ đốt trong được thải ra ngoài theo các con đường sau đây: 11 Hoàng Phúc Thọ Lớp CH12B-CKĐL - Theo đường ống xả: Đây là con đường chiếm tỷ lệ khí thải chủ yếu gây ra ô nhiễm môi trường, phát sinh trong quá trình đốt cháy nhiên liệu và thải ra ngoài thông qua đường ống xả. Khí thải bao gồm các thành phần chính là N2, và hơi nước chiếm khoảng 83%, còn lại là CO, CO 2, HC, và các loại ôxít Nitơ (NOx) và chì (đối với xăng pha chì).
- Các khí rò lọt: bao gồm những khí rò lọt qua khe hở giữa piston và xilanh, chủ yếu là Nitơ và ôxi chiếm tỷ lệ lớn trên 90%, phần còn lại là CO 2 và HC hơi nước, và một lượng nhỏ CO, NOx. - Hơi xăng bay hơi từ thùng nhiên liệu và bộ chế hoà khí, các vị trí không kín khít của đường ống nên chủ yếu là HC (thành phần chính của nhiên liệu xăng).1 trình bày tỷ lệ trung bình tính theo khối lượng các chất độc hại trong khí thải động cơ xăng theo chương trình thử đặc trưng của châu Âu. Tỷ lệ các chất độc hại trong khí thải động cơ xăng Trong số này chỉ có một số thành phần có tính độc hại đối với môi trường và sức khoẻ của con người nên được gọi là thành phần độc hại. Cụ thể như sau: + CO: ô-xýt-các-bon hay còn gọi là monoxit cacbon là sản phẩm cháy của C trong nhiên liệu trong điều kiện thiếu ôxy.
Hàm lượng CO tăng nhanh khi hệ số dư lượng không khí α < 1. Một nguyên nhân nữa là sự hoà trộn không đều giữa nhiên liệu và không khí hoặc nhiên liệu không hoàn toàn ở trạng thái hơi. Do vậy, mặc dù α chung có thể >1 nhưng vẫn có những khu vực cháy trong xi lanh thiếu không khí, dẫn đến sự tạo thành CO. 12 Hoàng Phúc Thọ Lớp CH12B-CKĐL Monoxit cacbon ở dạng khí không màu, không mùi.
Khi kết hợp với sắt có trong sắc tố của máu sẽ tạo thành một hợp chất ngăn cản quá trình hấp thụ ô xy của hê-mô-glô-bin trong máu, làm giảm khả năng cung cấp ôxy cho các tế bào trong cơ thể. Mô-nô-xít-các-bon rất độc, chỉ với một hàm lượng nhỏ trong không khí có thể gây cho con người tử vong. Hàm lượng cực đại cho phép [CO] = 33 mg/m 3. + HC: Chất thải Hydrocacbon chưa cháy HC là do sự cháy không hoàn toàn của nhiên liệu trong xylanh động cơ gây ra.
Nguồn chính của khí thải HC là do nhiên liệu thoát khỏi sự cháy trong buồng cháy của động cơ do quá trình chuyển tiếp nhiên liệu nạp, do các khe hở, do sự nén hỗn hợp chưa cháy vào các khe giữa đầu pít tông và xi lanh trong quá trình nén khi áp suất cao và sự giải phóng hỗn hợp này vào hỗn hợp đã cháy trong xi lanh ở thời kỳ giãn nở khi áp suất giảm. Màng dầu bôi trơn cũng là nguyên nhân gây ra HC trong khí thải, màng dầu hấp thụ HC trong quá trình nén và giải phóng HC vào khí cháy trong quá trình giãn nở. Một phần Hydrocacbon này được ôxyhoá khi được trộn với khí đã cháy trong quá trình giãn nở và quá trình xả, phần còn lại thải ra ngoài cùng với khí thải nên gây ra sự phát thải HC. Mức độ ôxyhóa HC phụ thuộc vào các điều kiện và chế độ vận hành động cơ như là tỷ số giữa nhiên liệu và không khí, tốc độ động cơ, tải, góc đánh lửa.
Nguồn phát sinh khác của HC là sự cháy không hoàn toàn trong một phần của chu kỳ vận hành của động cơ (hoặc là đốt cháy từng phần hoặc hiện tượng bỏ lửa hoàn toàn) xảy ra khi chất lượng đốt cháy kém. Hàm lượng HC chưa cháy trong khí thải chủ yếu phụ thuộc vào tỷ lệ không khí và nhiên liệu. Hydrocacbon có rất nhiều loại. Mỗi loại có mức độ độc hại khác nhau nên không thể đánh giá chung một cách trực tiếp.
Ví dụ, parafin và naphtalin có thể coi là vô hại. Trái lại, các loại hydrocacbon thơm thường rất độc, ví dụ như hydrocacbon có nhân ben-zen có thể gây ung thư. Để đơn giản khi đưa ra các tiêu chuẩn về môi trường, người ta chỉ đưa ra thành phần hydrocacbon tổng cộng trong khí thải (Total Hydrocarbon viết tắt là TH). Hydrocacbon tồn tại trong khí quyển còn gây ra sương mù, gây tác hại cho mắt và niêm mặc đường hô hấp.
13 Hoàng Phúc Thọ Lớp CH12B-CKĐL + NOx : oxit nitơ là sản phẩm ô xy hoá nitơ có trong không khí (một thành phần của khí nạp mới) trong điều kiện nhiệt độ cao. Do nitơ có nhiều hoá trị nên oxit nitơ tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, được gọi chung là NOx. Trong khí thải của động cơ đốt trong NOx tồn tại ở hai dạng chủ yếu là NO 2 và NO, NO chiếm đa phần, có thể tới 90-98%. Trong buồng cháy động cơ, dưới áp suất cao, bề dày màng lửa không đáng kể và tồn tại trong thời gian ngắn, do đó đại bộ phận NOx hình thành phía sau màng lửa, tức là sau khi hỗn hợp bị đốt cháy.
Nhân tố chính ảnh hưởng tới với sự hình thành NOx là nhiệt độ, ôxy và thời gian. Nhiệt độ cao, ô xy nhiều và thời gian dài thì NOx sẽ cao, tức là khi động cơ chạy toàn tải, tốc độ thấp và α =1,05-1,1 thì NOx lớn. cụ thể như sau: * NO2: peoxit nitơ là một khí có mùi gắt và mầu nâu đỏ. Với một hàm lượng nhỏ cũng có thể gây tác hại cho phổi, niêm mạc.
Khi tác dụng với hơi nước sẽ tạo thành axit gây ăn mòn các chi tiết máy và đồ vật. *NO: Monoxit nitơ NO là thành phần chủ yếu của NOx trong khí thải. NO là một khí không mùi, gây tác hại cho hoạt động của phổi, gây tổn thương niêm mạc. Trong khí quyển, NO không ổn định nên bị ô-xy hoá tiếp thành NO2 và kết hợp với hơi nước tạo thành axit nitơríc HNO 3.
Tóm lại, trong các thành phần khí thải ôtô thì CO, HC, NOx là những chất rất nguy hại. Sự hình thành các chất độc hại này liên quan đến quá trình cháy và đặc điểm của nhiên liệu sử dụng. Với mục đích giảm ô nhiễm môi trường do khí thải động cơ đốt trong gây ra. Cho đến nay đã có rất nhiều biện pháp cụ thể được sử dụng trong thực tế, và trong tương lai sẽ còn có các biện pháp khác được nghiên cứu nhằm giải quyết triệt để hơn vấn đề quan trọng này.
Nhìn chung các biện pháp kiểm soát lượng khí thải độc hại có thể chia thành ba nhóm chính: - Nhóm thứ nhất bao gồm các biện pháp giảm tối thiểu nồng độ độc hại bằng cách tối ưu hoá chất lượng đốt cháy thông qua việc tối ưu hoá kết cấu động cơ. 14 Hoàng Phúc Thọ Lớp CH12B-CKĐL - Nhóm thứ hai bao gồm các biện pháp xử lý khí thải để chuyển đổi khí thải thành khí trơ trước khi thải ra ngoài môi trường bằng cách sử dụng các phương pháp xử lý xúc tác. - Nhóm thứ ba bao gồm các biện pháp liên quan đến cách thức sử dụng nhiên liệu truyền thống và sử dụng nhiên liệu thay thế. Nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai đã được sử dụng rộng rãi với công nghệ kỹ thuật tiên tiến và đã đạt đỉnh cao của khoa học công nghệ.
Tuy nhiên do yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn khí thải và cần tiết kiệm nhiên liệu nên nhóm thứ ba ngày nay được quan tâm nghiên cứu nhiều, đặc biệt là sử dụng nhiên liệu thay thế có nồng độ phát thải độc hại thấp. Các loại nhiên liệu thay thế trên động cơ xăng 1. Cồn Ethanol là một loại nhiên liệu cồn được tạo ra từ việc lên men thực vật. Nguồn nguyên liệu chính là từ mía và củ cải đường, nhưng cũng có thể sản xuất từ nhiều loại củ quả khác nhau.
Ethanol không cho nhiều nhiệt năng như dầu. Ở các trạm bán Bioethanol người ta đo được tỷ lệ hỗn hợp là 85% bioethanol và 15% dầu. Saab 9-5 chạy bằng bioethanol Ở châu Âu, Bioethanol chỉ là một loại nhiên liệu phụ nhưng nó đặc biệt thành công ở Brazil, và được sử dụng với các hỗn hợp tỷ lệ khác nhau ở các vùng vành đai nông nghiệp của Mỹ.