ĐẶT VẤN ĐỀ Cây bí đỏ (Cucurbita maxima/ pepo/moschata), thuộc Họ bầu bí – Cucurbitacea. Quả bí đỏ chín không chỉ giàu vitamin A, mà có chứa nhiều nước, chất đạm, chất, và năng lượng. Trong 100g thịt quả tươi bí đỏ cung cấp 26 kcal, 2% protein, 44mg photpho (5%), 21mg canxi, 0,8mg sắt, 9mg vitamin C, 515mcg Carotene-a…(USDA SR-21, 2015). Bí đỏ là cây sinh trưởng mạnh, thích nghi với nhiều loại đất và mùa vụ nên dễ trồng.
Đây cũng là cây rau có khả năng rải vụ tốt, nhất là trong thời gian thị trường thiếu các nguồn rau xanh khác. Bí đỏ ngoài trồng cung cấp quả chín, người ta còn dùng quả non, ngọn, hoa làm rau ăn. Bên cạnh đó, sử dụng hạt để ăn và quả chín để chế biến thực phẩm khác như bánh, kẹo,… cũng rất phổ biến. Trong thời gian gần đây, một số địa phương trồng bí đỏ với xu hướng sử dụng ngọn và quả non nhiều hơn, bởi thời gian cho thu hoạch nhanh, tăng được số lần thu hoạch, giảm thời gian cây chiếm đất, điều này đã giúp người dân tăng thu nhập so với việc chỉ trồng bí để thu hoạch quả chín như trước đây.
Hiện nay, một số giống đang được sử dụng để lấy ngọn và quả non, là giống trước đây trồng để lấy quả chín. Do vậy, không có nhiều giống chuyên phục vụ cho mục đích ăn ngọn và quả non. Mặc dù cây bí đỏ sinh trưởng và phát triển mạnh hơn so với một số loại cây khác trong họ bầu bí nhưng vào những tháng lạnh của mùa đông, khả năng cho ngọn, quả non hay ra hoa đậu quả cũng chưa có nhiều tài liệu đề cập. Để phục vụ mục đích ăn ngọn, cây bí đỏ cần ra được nhiều nhánh, nhánh to mập.
Để phục vụ yêu cầu ăn quả non, cây bí cần phân nhánh mạnh, nhánh có nhiều hoa, nhất là hoa cái, tỷ lệ đậu quả cao, quả lớn nhanh…Trên cơ sở các yêu cầu thực tế đó, để tài “Đánh giá đặc điểm nông sinh học tập đoàn bí đỏ trồng tại Gia Lâm – Hà Nội năm 2015” cần được thực hiện. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích - Trên cơ sở đánh giá các đặc điểm nông sinh học các mẫu giống bí đỏ, căn cứ vào những nhu cầu của người tiêu dùng về sử dụng bí đỏ ăn ngọn, ăn quả non, từ tập đoàn giống bí đỏ thu thập được, lựa chọn ra được những mẫu giống bí đỏ 1 để sản xuất lấy ngọn, và sản xuất lấy quả non, phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Yêu cầu - Điều tra nhanh yêu cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm bí đỏ ăn ngọn và quả non về chất lượng.
- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của mẫu giống bí đỏ trong vụ Xuân hè và vụ Đông xuân tại Gia Lâm, năm 2015. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp nguồn gen, cùng các dữ liệu khoa học có giá trị cho công tác nghiên cứu và chọn tạo giống bí đỏ. - Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu.
Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cung cấp những thông tin về nhu cầu người tiêu dùng đối với bí đỏ ăn ngọn, bí đỏ ăn quả non tại ba địa điểm: Hà Nội, Ninh Bình, Hòa Bình. - Xác định được những mẫu giống bí đỏ thu thập với mục đích ăn ngọn, ăn quả non từ đó có thể sử dụng làm vật liệu phục vụ cho công tác chọn tạo giống đối với bí đỏ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC, SỰ PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI THỰC VẬT CỦA CÂY BÍ ĐỎ 2.
Nguồn gốc và sự phân bố của cây Bí đỏ Cây Bí đỏ thuộc chi Cucurbita, họ Bầu bí – Cucurbitaceae. Tất cả các chi Cucurbita đều có nguồn gốc từ châu Mỹ, nhưng tuỳ từng loài mà chúng có thể có nguồn gốc từ Bắc hoặc Nam Mỹ. Năm loài phổ biến của chi Cucurbita được xác định là có nguồn gốc từ châu Âu những năm cuối thế kỉ 15. Các loài thuộc chi Cucurbita được sử dụng sản xuất trong nông nghiệp là: loài Cucurbita argyrosperma, Cucurbita maxima, loài Cucurbita moschata và Cucurbita pepo.
Loài Cucurbita argyrosperma: phân bố rộng khắp từ Tây Nam Mỹ, qua Mexico đến tận Trung Mỹ. Các nhà khoa học đã tìm thấy một số di vật khảo cổ cho thấy loài này có thể được thuần hoá từ khu vực phía Tây Nam Mỹ đến khu vực trung tâm phía nam của Mexico, vài ngàn năm trước. Loài Cucurbita ficifolia: Phân bố từ vùng cao khu vực Mexico về phía nam tới phía bắc Chile và Argentin. Vị trí chính xác của khu vực thuần hóa Cucurbita ficifolia vẫn còn chưa chắc chắn.
Một số học giả cho rằng nó có nguồn gốc là Trung Mỹ hay miền Nam Mexico / Trung Mỹ. Người khác lại cho rằng nó được bắt nguồn ở Nam Mỹ, cụ thể hơn, trong dãy núi Andes. Vào thế kỉ thứ 16,17, người Châu Âu đã đưa C. ficifolia tới các nước Địa Trung Hải (cụ thể là Pháp và Bồ Đào Nha) và Ấn Độ (ENV/JM/MONO, 2012).
Nó cũng đã được lan rộng tới các nước khác trên thế giới với nhiều tên gọi khác nhau. Loài Cucurbita maxima: phân bố tự nhiên tại Bolivia, Argentina và Chile. Loài này đã được thuần hoá tại Nam Mỹ. Bằng chứng khảo cổ cho thấy, C.
maxima được trồng và sử dụng nhiều nhất từ Peru tới miền bắc Argentina. Từ thế kỷ 16, một số loại C. maxima đã được vận chuyển trực tiếp từ Nam Mỹ đến châu Âu. Nhiều giống khác đến Úc, châu Phi và châu Á, nơi các giống địa phương phát triển.
Trong thế kỷ 19, một số giống cây trồng đã được giới thiệu vào Hoa Kỳ từ Nam Mỹ. maxima, ngoài các khu vực Nam Mỹ đã đề cập ở trên, còn xuất hiện nhiều nơi khác, chủ yếu bao gồm các giống bản địa, tồn tại trên thế giới. 3 Loài Cucurbita moschata: phân bố tự nhiên của Cucurbita moschata là từ các vùng trung du của Mexico đến Trung Mỹ. Loài này được thuần hoá ở châu Mỹ latinh, nhưng chưa xác định được khu vực chính xác.
moschata là loại bí trồng nhiều nhất ở vùng nhiệt đới, với quy mô nhỏ để tiêu thụ trong nước. Sau châu Âu, C. moschata đã được lan truyền nhanh chóng tới các lục địa khác, thích nghi với điều kiện sinh thái khác nhau. Chúng đưa vào trồng tại phía Tây Missisippi ở Mỹ vào cuối thế kỷ 17, và vào thế kỷ 19 được trồng ở Ấn Độ, Java, Angola, Bắc Phi và Nhật Bản.
Loài Cucurbita pepo: Sự phân bố tự nhiên từ miền Đông Hoa Kỳ về phía Bắc vào bang Illinois qua các thung lũng Mississippi, các tiểu bang Texas và phía Nam vào Mexico. Dữ liệu khảo cổ đã cho thấy C. pepo đã được người dân bản địa sử dụng từ hàng ngàn năm trước đây (7000-5000TCN) (ENV/JM/MONO, 2012). Và là một trong những loài được thuần hoá đầu tiên của chi Cucurbita, thậm chí đã được thuần hoá sớm hơn một số cây trồng quan trọng khác như ngô (Zea maize), đậu (Phaseolus vulgaris) khoảng 2000 đến 5000 năm (ENV/JM/MONO, 2012).
Sau khi được thuần hoá, C. pepo đã phát triển ngày một đa dạng hơn tại các nước Mỹ, Châu Âu và châu Á. Ở Việt Nam, bí đỏ xuất hiện và đã có từ lâu đời nay. Không thấy có tài liệu ghi chép về nguồn gốc của bí đỏ du nhập vào Việt Nam từ khi nào, chỉ biết rằng bí đỏ có mặt khắp các vùng miền từ Bắc tới Nam.
Bí đỏ được sử dụng làm thực phẩm phổ biến, được chế biến thành nhiều món ăn trong những bữa ăn của các gia đình. Phân loại thực vật bí đỏ Họ bầu bí (Cucurbitaceae) là một họ thực vật bao gồm dưa hấu (Citrullus), dưa chuột (Cucumis), bí đao (Benincasa), bầu (Lagenaria), bí ngô (Cucurbita), mướp (Luffa), mướp đắng (Momordica)… Hệ thống phân loại thực vật của Angiosperm Phylogeny Group (APG) được các nhà thực vật học sử dụng rộng rãi và đã được cập nhật thành APG II năm 2003 để thêm vào các nghiên cứu gần đây. Hệ thống phân loại APG II đã phân loại bộ bầu bí thành 7 họ khác nhau. Họ Cucurbitaceae gồm 120 chi với 1000 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, ít ở ôn đới và hàn đới.
Nước ta có 23 chi và gần 50 loài. Ở nước ta có 3 loài: 4 C. Ex Lam – Bí rợ, bù rợ Cây thân thảo mọc hằng năm, phân nhánh nhiều, bò dài; thân dài 4-5m, có 5 cạnh, có lông cứng, giòn, trắng; tua cuốn chia thành nhiều nhánh. Lá đơn, mọc so le, dài đến 20cm, có cuống dài; phiến lá hình tim chia 5 thùy cạn và tròn, có lông mềm.
Cây có hoa cùng gốc, hoa màu vàng nghệ, mùi thơm thơm, tràng hình chuông, nhị 3 có bao phấn dính nhau thành một khối dài tới 2cm. Quả rất to, hình cầu dẹp hai bên, lõm ở giữa, có thể nặng tới 50kg, thịt vàng, hạt trắng hay vàng vàng, dẹp, hơi có mép, dài 20-29mm. Ra hoa kết quả quanh năm. Toàn cây được sử dụng: lá non và quả làm rau ăn phổ biến.
Hạt chứa 48% dầu (Võ Văn Chi, 2002), được dùng làm thực phẩm. Thịt quả đắp trị bỏng, sưng viêm vì nhọt. Hạt được dùng trị giun, diệt sán sơ mít, lợi tiểu và bổ, dầu hạt dùng để bổ thần kinh. Ex Poir – Bí rợ, bí ngô, bí thơm.
Cây thảo hằng năm, thân có lông dày, mềm; tua cuốn chia thành nhiều nhánh. Lá hình tim, tù, có răng, 5-6 thùy hình góc màu lục sẫm, thường có đốm trăng trắng; cuống lá dài 8-20cm. Hoa đơn độc màu vàng, không thơm. Quả to, hình trụ hay hình chùy.
Vỏ quả màu lục đen, vàng hay đỏ, cuống quả dài 5-7cm, có cạnh, phình rộng ở chỗ dính, thịt có nhiều hột, vàng, dẹp dài 10-12mm. Cây ưa khí hậu mát, ẩm, không có rét kéo dài dưới 100C và đất nhiều mùn. Ra hoa tháng 7-8, có quả tháng 9-10. Cây trồng lấy quả làm rau ăn, có tác dụng bổ dưỡng, làm dịu, giải nhiệt, nhuận tràng và lợi tiểu.
Cũng được dùng như các loại bí khác chữa viêm đường niệu, trĩ, viêm ruột, lỵ, mất ngủ, suy nhược, thiểu năng thận, khó tiêu, táo bón, đái đường, bệnh về tim. Có thể dùng quả nấu ăn hoặc ép lấy nước tươi uống. Dùng ngoài để đắp vết bỏng, vết sưng, áp xe… C. Cây thân thảo, có thân góc cạnh mọc bò hay leo nhờ tua cuốn chẻ 2-4.
Lá đơn, mọc so le, có cuống dài, phiến lá chia thùy hay chia cắt thành thùy nhọn với mặt lá lởm chởm lông nâu rất nhám. 5 Hoa vàng, có kích thước lớn.