Tổng quan nghiên cứu

Trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp nhiệt đới, bí đỏ là loại rau ăn quả giàu dinh dưỡng và có giá trị kinh tế nổi bật. Cứ 100g thịt quả tươi cung cấp 26 kcal năng lượng, 2% protein, 44mg photpho, 21mg canxi và 515 mcg Carotene-a. Đặc biệt, chi phí đầu tư sản xuất bí đỏ thấp hơn nhiều loại cây trồng khác, chỉ khoảng 250.000 đến 300.000 đồng/sào, trong khi trồng lúa cần 500.000 đến 550.000 đồng/sào và cà chua cần từ 1,2 đến 1,5 triệu đồng/sào.

Hiện nay, xu hướng canh tác chuyển dịch mạnh mẽ sang thu hoạch ngọn non và quả non làm rau sạch thương phẩm nhằm rút ngắn thời gian sinh trưởng, tăng hệ số quay vòng đất và nâng cao thu nhập cho nông dân. Tuy nhiên, phần lớn hộ sản xuất vẫn tận dụng các giống bí đỏ chuyên lấy quả chín truyền thống để thu ngọn và quả non, khiến năng suất sinh khối đạt thấp và chưa đáp ứng tối đa thị hiếu thị trường.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học cây trồng của tác giả Phạm Thị Thuỳ Linh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của TS. Vũ Thanh Hải, đã giải quyết thấu đáo bất cập này. Đề tài tập trung đánh giá đặc điểm nông sinh học của 43 mẫu giống bí đỏ địa phương kết hợp khảo sát nhu cầu tiêu dùng, từ đó tuyển chọn những dòng triển vọng nhất phục vụ sản xuất ngọn và quả non.

Nghiên cứu được triển khai tại Gia Lâm, Hà Nội trong hai vụ canh tác năm 2015: vụ Xuân Hè (từ tháng 4 đến tháng 8) và vụ Đông (từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 2 năm 2016). Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần rút ngắn chu kỳ thu hoạch xuống dưới 100 ngày đối với quả non và 31 ngày đối với đợt ngọn đầu tiên, hỗ trợ nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp đạt trên 53 triệu đồng/ha.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng phân loại thực vật học họ Bầu bí (Cucurbitaceae) theo hệ thống APG II năm 2003, tập trung vào ba loài phân bố phổ biến tại Việt Nam gồm Cucurbita moschata, Cucurbita maxima và Cucurbita pepo. Mỗi loài sở hữu đặc tính hình thái và sinh lý khác biệt: Cucurbita maxima có thân lá mềm ít gai thích hợp ăn ngọn, trong khi Cucurbita moschata và Cucurbita pepo thích ứng rộng và phân hóa hoa phong phú.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết sinh thái nông học về tác động của nhiệt độ, ánh sáng và chế độ dinh dưỡng khoáng đến quá trình phân hóa giới tính hoa và sinh trưởng sinh dưỡng. Ở điều kiện nhiệt độ 23-30°C và ngày ngắn, cây ưu tiên phát triển hoa cái, trong khi nhiệt độ cao và ngày dài kích thích hoa đực (tỷ lệ hoa đực trên hoa cái tự nhiên đạt khoảng 16,5:1). Các khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm: đặc điểm nông sinh học, động thái tăng trưởng thân lá, chỉ số hình dạng lá mầm, tỷ lệ đậu quả, độ Brix thịt quả và các yếu tố cấu thành năng suất lý thuyết.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ tập đoàn 43 mẫu giống bí đỏ thu thập tại 12 tỉnh thành miền Bắc như Hà Nội, Phú Thọ, Hòa Bình, Bắc Giang, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Ninh, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai và Thái Nguyên. Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 60 phiếu phỏng vấn người tiêu dùng (20 phiếu tại mỗi địa phương: Hà Nội, Ninh Bình, Hòa Bình) thông qua phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) nhằm chuẩn hóa bộ tiêu chí thị hiếu.

Thí nghiệm đồng ruộng được bố trí theo phương pháp tuần tự không nhắc lại tại Gia Lâm, Hà Nội. Việc lựa chọn phương pháp này cho phép sàng lọc đồng thời tập đoàn nguồn gen lớn (43 mẫu giống) trên quỹ đất thực nghiệm có hạn một cách khoa học. Mật độ gieo trồng vụ Xuân Hè là 8.000 cây/ha (khoảng cách 0,5m x 1m, 20 cây/mẫu giống), vụ Đông là 4.000 cây/ha (khoảng cách 1m x 1m, 10 cây/mẫu giống).

Các chỉ tiêu sâu bệnh hại được phân cấp theo quy chuẩn quốc gia QCVN 01-38:2010/BNNPTNT và mức độ chống chịu điều kiện bất thuận (ngập úng, rét dưới 5°C) theo QCVN 01-87:2012/BNNPTNT. Toàn bộ số liệu thô được nhập liệu và phân tích thống kê sinh học bằng phần mềm Microsoft Excel chuyên dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thị hiếu người tiêu dùng xác lập rõ định hướng chọn tạo giống: 47,46% người tiêu dùng chuộng ngọn có đường kính thân trung bình (1-1,5cm), 49,15% thích ngọn có từ 3-5 lá non, 59,32% chuộng ngọn ngắn dưới 30cm để sử dụng toàn bộ, và 86,44% cho rằng không cần có quả non trên ngọn. Đối với quả non, 64,41% ưa thích hình dạng thuôn dài, 72,88% chuộng ruột đặc, 62,71% chọn quả không khía, và 71,19% mong muốn quả có vị ngọt thanh nhẹ.

Trong vụ Xuân Hè năm 2015, nghiên cứu đã chọn lọc được 5 mẫu giống triển vọng nhất cho hướng thu ngọn gồm mẫu 1, 3, 12, 24 và 44. Các mẫu này đạt số ngọn thu hoạch trên 4,0 ngọn/cây, khối lượng trung bình trên 30g/ngọn, khả năng chống chịu úng tốt và nhanh hồi phục. Nổi bật nhất là mẫu số 12 đạt năng suất lý thuyết 13,598 tạ/ha (5,2 ngọn/cây) và mẫu số 3 đạt 12,193 tạ/ha (4,7 ngọn/cây), cao hơn từ 35% đến 55% so với mức trung bình của toàn tập đoàn khảo nghiệm.

Trong vụ Đông năm 2015, hai mẫu giống số 4 và 40 thể hiện ưu thế vượt trội cho hướng lấy ngọn với 3-5 lá/ngọn và khả năng chống chịu rét ở 5°C mức độ trung bình. Ở hướng thu quả non vụ Đông, các mẫu số 13, 18, 20, 22 và 37 đạt tỷ lệ đậu quả rất cao (trên 80%), năng suất từ 1-3 quả/cây, độ dày thịt quả trên 1,0cm, thời gian thu hoạch ngắn dưới 100 ngày và khả năng chịu rét tốt.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về khả năng đâm chồi và tích lũy sinh khối giữa các mẫu giống bắt nguồn từ đặc tính di truyền và khả năng quang hợp của từng dòng. Sau 17 ngày trồng ở vụ Xuân Hè, mẫu số 7 đạt chiều dài thân chính dẫn đầu với 99,8cm (4,8 lá), trong khi mẫu số 37 chỉ đạt 20,4cm (3,8 lá). Đến giai đoạn 24 ngày sau trồng, mẫu số 29 tăng trưởng bứt phá thêm 74cm chiều dài thân, còn mẫu số 42 tăng 10,1 lá chỉ trong vòng một tuần.

Động thái tăng trưởng chiều dài thân và tốc độ ra lá qua ba mốc thời gian (17, 24 và 31 ngày sau trồng) phản ánh rõ nét tốc độ sinh trưởng của từng mẫu giống. Dữ liệu này có thể được trình bày hiệu quả qua biểu đồ đường đa biến nhằm so sánh độ dốc tăng trưởng thân lá, giúp xác định chính xác thời điểm bấm ngọn chính khi cây đạt chiều dài 1,5m.

Đồng thời, bảng phân loại chất lượng quả non theo màu sắc thịt quả (trắng xanh, vàng xanh, vàng đậm) kết hợp biểu đồ cột phân bố độ Brix thịt quả giúp các đơn vị sản xuất định vị chính xác phân khúc tiêu dùng cho từng giống, đáp ứng trọn vẹn yêu cầu chế biến ẩm thực hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Nhân rộng và khảo nghiệm nâng cao 5 mẫu giống chuyên lấy ngọn (mẫu số 1, 3, 12, 24, 44) và 5 mẫu giống chuyên lấy quả non (mẫu số 13, 18, 20, 22, 37): Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Học viện Nông nghiệp Việt Nam triển khai mô hình trình diễn trong 12 tháng tới tại các vùng rau chuyên canh lớn ở Hà Nội, Hải Dương và Vĩnh Phúc, đặt mục tiêu nâng năng suất thực thu đạt 12-15 tạ/ha.

  2. Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật bấm tỉa ngọn và bón phân cân đối: Trung tâm Khuyến nông các tỉnh ban hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trong vòng 6 tháng tới. Nông dân cần thực hiện bón lót 400-600 kg phân hữu cơ hoai mục kết hợp 15 kg NPK/sào, bấm ngọn chính khi thân dài 1,5m (giữ lại gốc 1,0m) và định kỳ bấm chồi 7-10 ngày/lần để kích thích số chồi hữu hiệu đạt trên 4 chồi/cây.

  3. Ứng dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp sinh học: Hợp tác xã và hộ nông dân thay thế hoàn toàn thuốc bảo vệ thực vật hóa học bằng chế phẩm vi sinh Bacillus thuringiensis (Bt) và virus NPV trong suốt chu kỳ canh tác, kiểm soát tỷ lệ hại của bọ rùa và bệnh phấn trắng dưới cấp 3 theo tiêu chuẩn QCVN 01-38:2010/BNNPTNT, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người tiêu dùng.

  4. Xây dựng chuỗi liên kết bao tiêu nông sản đạt chuẩn: Doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ ký hợp đồng liên kết với các hợp tác xã sản xuất trong quý 3 năm tới, cam kết bao tiêu sản phẩm ngọn bí quy cách dài dưới 30cm và quả non thuôn dài không khía (đường kính 10-20 cm), gia tăng giá trị thương phẩm từ 20% đến 30% khi phân phối vào các chuỗi siêu thị.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà khoa học và chuyên gia chọn tạo giống cây trồng: Khai thác nguồn vật liệu di truyền phong phú từ 43 mẫu giống bí đỏ bản địa, phục vụ chương trình lai tạo các dòng bí đỏ ưu thế lai F1 chuyên ăn ngọn hoặc quả non có khả năng chống chịu rét dưới 10°C và chống úng vượt trội.

  2. Cán bộ khuyến nông và kỹ sư nông nghiệp địa phương: Vận dụng hệ thống số liệu thực nghiệm về mật độ gieo trồng (4.000 - 8.000 cây/ha), chu kỳ bấm ngọn và định mức phân bón NPK để xây dựng các tài liệu hướng dẫn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân.

  3. Hợp tác xã, chủ trang trại và hộ nông dân sản xuất rau an toàn: Lựa chọn chính xác các mẫu giống tiềm năng cao (mẫu 3, 12 cho lấy ngọn; mẫu 13, 37 cho lấy quả non) nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng vụ Đông, rút ngắn chu kỳ chiếm đất và gia tăng doanh thu đạt trên 50 triệu đồng/ha/vụ.

  4. Giảng viên, sinh viên và học viên cao học ngành Nông học: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát xã hội học nông thôn (PRA) và bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo quy chuẩn quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nên chuyển đổi từ trồng bí đỏ lấy quả chín sang lấy ngọn và quả non?

Trồng bí lấy ngọn và quả non rút ngắn thời gian sinh trưởng xuống dưới 100 ngày, tăng số lần thu hoạch và giảm đáng kể thời gian chiếm đất. Nghiên cứu tại Vĩnh Phúc chứng minh mô hình trồng bí đỏ hàng hóa mang lại giá trị sản xuất đạt 53,47 triệu đồng/ha, trong khi chi phí đầu tư phân thuốc chỉ 250.000 - 300.000 đồng/sào, cao hơn hẳn so với trồng lúa và cây màu truyền thống.

Những mẫu giống bí đỏ nào cho năng suất ngọn cao nhất trong vụ Xuân Hè?

Trong 43 mẫu giống khảo nghiệm, các mẫu số 1, 3, 12, 24 và 44 có triển vọng vượt trội nhất. Tiêu biểu là mẫu số 12 đạt năng suất lý thuyết 13,598 tạ/ha với 5,2 ngọn/cây và mẫu số 3 đạt 12,193 tạ/ha với 4,7 ngọn/cây. Khối lượng mỗi ngọn đều đạt trên 30g, cây có sức sống khỏe, ít sâu bệnh và phục hồi rất nhanh sau các đợt mưa ngập úng.

Người tiêu dùng hiện nay có những yêu cầu cụ thể nào đối với chất lượng rau bí ăn ngọn?

Khảo sát 60 phiếu phỏng vấn tại Hà Nội, Hòa Bình và Ninh Bình cho thấy 47,46% người tiêu dùng chọn thân ngọn có độ lớn trung bình từ 1-1,5cm; 49,15% yêu cầu ngọn có 3-5 lá non; 59,32% chuộng ngọn ngắn dưới 30cm để sử dụng trọn vẹn không phải cắt bỏ phần già; và 86,44% khẳng định không cần thiết có quả non trên ngọn bí.

Mẫu giống nào thích hợp nhất để khai thác quả non trong vụ Đông có rét đậm?

Các mẫu giống số 13, 18, 20, 22 và 37 là lựa chọn tối ưu cho vụ Đông. Nhóm giống này có tỷ lệ đậu quả đạt trên 80%, năng suất từ 1-3 quả/cây, thịt quả dày trên 1,0cm, ruột đặc và thời gian thu hoạch quả non ngắn dưới 100 ngày. Khi nhiệt độ mùa đông hạ thấp xuống 5°C, các mẫu này duy trì mức độ tàn lụi lá thấp đến trung bình.

Kỹ thuật bấm ngọn chính cho cây bí đỏ ăn ngọn cần thực hiện như thế nào?

Khi thân chính bò dài khoảng 1,5m, tiến hành cắt thu hoạch ngọn chính với chiều dài 50cm, chừa lại phần gốc khoảng 1,0m để kích thích đâm các nhánh nách. Sau khi cắt, tiến hành làm sạch cỏ, rạch hàng cách gốc 20cm, bón thúc 2,5-3 kg đạm ure/sào kết hợp vun gốc và tưới ẩm thường xuyên giúp chồi mới đâm nhanh và to mập.

Kết luận

  • Xác lập bộ tiêu chuẩn thị hiếu tiêu dùng rõ nét tại miền Bắc với ưu tiên ngọn to mập, dễ tước, ít tua cuốn và quả non dạng thuôn dài, ruột đặc, không khía.
  • Hoàn thành đánh giá nông sinh học toàn diện cho 43 mẫu giống bí đỏ thu thập từ 12 tỉnh thành qua hai vụ Xuân Hè và vụ Đông năm 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội.
  • Tuyển chọn thành công 5 mẫu giống chuyên lấy ngọn vụ Xuân Hè (mẫu 1, 3, 12, 24, 44) và 2 mẫu giống lấy ngọn vụ Đông (mẫu 4, 40) cho năng suất lý thuyết đạt tới 13,598 tạ/ha.
  • Xác định 5 mẫu giống chuyên lấy quả non vụ Đông (mẫu 13, 18, 20, 22, 37) với tỷ lệ đậu quả vượt trên 80% và chống chịu rét tốt ở nhiệt độ 5°C.
  • Cung cấp nguồn gen bản địa quý báu và cơ sở khoa học tin cậy cho công tác lai tạo giống rau thương phẩm ngắn ngày, góp phần nâng cao giá trị canh tác vượt mức 53 triệu đồng/ha.

Trong vòng 24 tháng tới, các cơ quan chuyên môn và địa phương cần đẩy mạnh việc khảo nghiệm diện rộng và đăng ký chỉ dẫn địa lý cho các giống ưu tú. Quý bạn đọc, nhà khoa học và bà con nông dân quan tâm hãy liên hệ với Bộ môn Rau hoa quả - Học viện Nông nghiệp Việt Nam để tiếp cận nguồn vật liệu giống và nhận chuyển giao quy trình kỹ thuật canh tác tiên tiến nhất.