Phần mở đầu: Luận giải sự cần thiết của luận án, mục đích nghiên cứu, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án. - Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu; - Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu; - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận; - Phần kết luận, tồn tại, khuyến nghị: Các kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế, tồn tại của luận án và các khuyến nghị về nghiên cứu tiếp theo. Ngoài ra còn có hệ thống 38 bảng, 04 biểu, 18 hình vẽ, biểu đồ minh họa. Tham khảo 118 tài liệu trong đó 86 tài liệu tiếng Việt, 32 tài liệu tiếng nƣớc ngoài, có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và phần phụ lục gồm các bảng biểu minh họa kết quả điều tra và tính toán.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤ Ề NGHIÊN CỨU 1. Phương thức khai thác Rất nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về phƣơng thức khai thác chọn, kết quả nghiên cứu đã đem lại những cống hiến và công trình có giá trị nhƣ Baur G.N (1964) [2]: Cơ sở sinh thái học kinh doanh rừng mƣa.C (1985) [112] đã nghiên cứu các vấn đề kinh doanh rừng mƣa, phục hồi rừng về tái sinh vệt và quản lý rừng mƣa nhiệt đới. dƣới các góc độ khác nhau đã xác định mức độ phù hợp của phƣơng thức khai thác chọn trong kinh doanh rừng mƣa nhiệt đới.N (1964) [2] những lý do để lựa chọn phƣơng thức khai thác duy trì rừng khác tuổi nhiệt đới là: trong khai thác chỉ cần lấy ra những cây gỗ thành thục và quá thành thục, những cây gỗ có kích thƣớc nhỏ hơn và bất kỳ cây gỗ nào cao to hơn còn lành mạnh mà theo tình hình thông thƣờng là vô dụng song có triển vọng thành loài có giá trị hàng hóa đều đƣợc chừa lại; cần tiếp tục bảo vệ đất, tránh xói mòn sau khi mở tán rừng có thể xảy ra mạnh; chống các bất trắc do yếu tố khí hậu có thể xảy ra; những lý do về mỹ quan trong cảnh quan chung của vùng, đặc điểm là những nơi liền kề với các diện tích rừng dùng làm nơi vui chơi, giải trí hay du lịch. Trong nhiều trƣờng hợp, tất cả các lý lẽ trên có thể hoàn toàn đƣợc chấp nhận để duy trì một quần xã không đều tuổi.
Tuy nhiên, cũng cần phải cân nhắc các lý lẽ này trƣớc khi quyết định đƣa ra những xử lý lâm sinh bởi phần lớn các loài cây gỗ rừng nhiệt đới đều có xu hƣớng là loài ƣa sáng. Mặt khác, khác thác chọn nếu số lần khai thác ít, cƣờng độ cao và tập trung sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt hơn là khai thác cƣờng độ thấp số lần khai thác nhiều. Hơn nữa, nhiều loài cây đặc biệt là ở rừng mƣa nhiệt đới thƣờng có tán lá cực lớn có thể tạo ra hệ số đổ vỡ cao khi khai thác những cây này [22]. 5 Một số phƣơng thức chặt chọn đƣợc coi là có nhiều hứa hẹn với những thành công ban đầu phải kể đến là: i) Phương thức chặt chọn ở Surinam (Nam Mỹ), một chƣơng trình thử nghiệm chặt chọn ở Surinam đƣợc tiến hành trong 17 năm với sự hợp tác giữa trƣờng Đại học tổng hợp Surinam và trƣờng Đại học nông nghiệp Wagenigen (Hà Lan) đã xây dựng một phƣơng thức xử lý rừng có tên gọi là “phƣơng thức kinh doanh Celos”.
CMS là một phƣơng thức nhằm khai thác một cách chọn lọc tại rừng mƣa nhiệt đới với những xáo trộn nhỏ nhất trong hệ sinh thái rừng trong quá trình bảo tồn những giá trị kinh tế của rừng. Đây là một phƣơng thức đa chu kỳ, bởi vì một số thế hệ của những cây gỗ hiện có trong quần xã đƣợc chặt hạ trong các chu kỳ khai thác khác nhau khoảng 20 – 30 năm. CMS có ƣu điểm chính là bảo toàn đƣợc cấu trúc rừng có hầu hết các cấp tuổi gần với trạng thái cân bằng cấp kính. ii) Chặt chọn ở Puecto-Rico (Nam Mỹ), chặt chọn ở đây đƣợc xác định trƣớc hết là biện pháp xử lý nhằm cải thiện quần xã và đƣa rừng vào các điều kiện thích hợp để kinh doanh, đƣa lại năng suất ổn định theo một phƣơng thức chặt chọn chân chính.
Bởi vậy, phƣơng thức này còn đƣợc gọi là phƣơng thức chặt cải thiện tuyển chọn (selection improvement cutting). Điểm đáng chú ý của phƣơng thức chặt này là, lúc đầu chu kỳ chặt quy định 5 năm nhƣng sau đó tăng lên 10 năm. Đây là điều khó tránh khỏi vì cƣờng độ nhẹ, chu kỳ ngắn đã làm tăng các phí tổn trong khai thác. Tuy nhiên, việc kéo dài chu kỳ chặt này không làm đảo lộn ý định chung trong một phƣơng thức chặt chọn mặc dù điều đó có thể làm cho sản lƣợng hàng năm có thể bị rút bớt bởi qua chu kỳ dài mật độ của quần xã sẽ phải biến động ở mức cách xa hơn mức mật độ tối ƣu cần có (Baur G.
iii) Chặt chọn ở Indonesia, cũng nhƣ nhiều nƣớc Đông Nam Á khác, rừng mƣa ở Indonesia ƣu thế thuộc về các loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae). Các quần xã rừng mƣa có giá trị thƣơng mại của quốc đảo này tập trung chủ yếu ở hai đảo lớn là Kalimantan và Xumatra. Những công việc lâm sinh trƣớc đây của Indonesia tập trung vào kinh doanh rừng Tếch (Tectona grandis) rộng lớn và rất tốt ở vùng phân mùa rõ rệt, đặc biệt là ở Jawa. Tuy nhiên, gần đây các cơ quan lâm nghiệp của nƣớc này đã chú ý đến việc kinh doanh rừng 6 mƣa.
Với đối tƣợng này, phƣơng thức chặt chọn và trồng lại theo ngôn ngữ của Indonesia là TPTI (Tebang Pilihdan Taman Indonesia) đƣợc áp dụng rộng rãi. Một cách tổng quát, TPTI là một phƣơng thức khai thác chọn với chu kỳ 35 năm và giới hạn dƣới của cỡ kính đƣợc phép khai thác là 50cm. Số lƣợng cây lấy đi trong một lần chặt đƣợc khống chế bằng một chỉ số sao cho ít nhất phải chừa lại 25 cây trên một hecta cho chu kỳ sau. Thông thƣờng, mỗi lần chặt không lấy đi quá 10 cây/hecta.
Tại các khoảng trống hình thành sau khai thác đƣợc trồng bổ sung cây con sau khi thu hoạch từ một đến hai năm. Ở nơi có cây tái sinh sau hai thác dày chỉ chăm sóc, phát quang cho cây mục đích và tỉa thƣa những cây kém giá trị [22]. iv) Chặt chọn ở Ấn Độ, một trong những chế độ quản lý rừng sớm nhất và còn đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất là phƣơng thức chặt chọn, nó bao gồm việc khai thác có chọn lọc các cây gỗ có giá trị và dựa vào tái sinh tự nhiên là chủ yếu. Phƣơng thức này đƣợc áp dụng ở những nơi có các loài cây có giá trị với tỷ lệ thấp; nơi thiếu thông tin về sử dụng đầu ra, khó tiếp cận hoặc có yêu cầu về bảo vệ môi trƣờng.
Những xử lý sau này của Ấn Độ có cải biến thêm là sử dụng phƣơng thức khai thác chọn, kết hợp với các biện pháp nhằm cải thiện thúc đẩy cây tái sinh có sẵn phát triển lên. Về kỹ thuật, chu kỳ chặt chọn khá dài (25 đến 45 năm), không mở tánmạnh bằng cách quy định các giới hạn về đƣờng vanh thân cây và hạn chế số cây lấy ra trên một hecta đồng thời xem xét đến cự ly giữa các cây gỗ chặt hạ. Tùy thuộc vào tình hình tái sinh nơi khai thác, có thể bổ sung cây tái sinh thông qua tái sinh nhân tạo nơi không có đủ cây con. Sau khai thác, tiến hành chăm sóc, phát quang cho lớp cây tái sinh đã mọc và nâng dần tầm cao của vòm lá.
Ở quần xã Dipterocarpus spp và Mesua ferre, dùng kỹ thuật ken cây tầng giữa để nâng cao vòm lá lên khoảng 9 mét, chăm sóc cây tái sinh, sau 10 năm, cây tái sinh có chiều cao từ 0,3 mét đã sinh trƣởng đạt tới 2,25 mét. Còn ở nơi không dùng kỹ thuật nâng cao vòm lá, cây tái sinh cùng tuổi chỉ sinh trƣởng đƣợc 0,3 mét sau khai thác lên 0,75 mét (Baur G. Kỹ thuật khai thác tác động thấp (LIL – Low Impact Logging) hay còn đƣợc gọi là khai thác giảm thiểu tác động (RIL - Reducing Impact Logging) đã đƣợc 7 chứng minh làm giảm thiểu tác động đến môi trƣờng đến 50% so với phƣơng pháp khai thác thông thƣờng, các khu vực rừng sau khai thác công nghệ RIL có tốc độ phục hồi nhanh hơn, Pinard and Putz (1997) [100]. Viện sinh học và khoa học môi trƣờng Malaysia đã tiến hành nghiên cứu đề tài sự tác động của khai thác và khả năng phục hồi CO2 sau khai thác tác động thấp, kết quả cho thấy tỷ lệ cây bị tác động (tổn thƣơng) ở phƣơng pháp thông thƣờng cao hơn RIL.
Sau khai thác độ che phủ của RIL duy trì ở mức 81%, phƣơng pháp thông thƣờng là 51%. Lƣợng lƣu trữ CO2 sau khai thác RIL cao hơn đến 41%, Philippa R. Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng Lịch sử quản lý rừng nhiệt đới đƣợc phát triển từ những năm đầu của thế kỷ XIX ở Ấn Độ, Mianma và nhanh chóng lan rộng sang nhiều khu vực ở châu Phi. Khởi đầu, hoạt động quản lý đƣợc thực hiện nhằm bảo vệ có hệ thống các nguồn tài nguyên gỗ.
Ở giai đoạn sau này, các hoạt động quản lý đƣợc đa dạng hóa nhƣ: chuyển đổi rừng tự nhiên thành rừng trồng hoặc nông lâm kết hợp, tác động nhằm tạo rừng tự nhiên có năng suất cao hơn, hoặc giảm thiểu tác động và sử dụng tái sinh tự nhiên để tạo ra các lâm phần có mục tiêu lấy gỗ (các hệ thống tái sinh tự nhiên). Ngoài ra, quản lý rừng cũng bao gồm các hệ thống phục hồi bằng việc phục hồi lại rừng trên đất đã bị thoái hóa (các hệ thống phục hồi). Theo (Gomez-Pompa & Burley, (1991) [92] có thể gộp các hệ thống quản lý rừng trên thế giới về 4 nhóm chính: nhóm các hệ thống thay thế; nhóm các hệ thống rừng chặt trắng; nhóm các hệ thống thúc đẩy tái sinh tự nhiên; nhóm các hệ thống rừng phục hồi. Nỗ lực đầu tiên về quản lý rừng bền vững, gắn liền với chứng chỉ đƣợc thực hiện là thành lập Hệ thống Rừng Trang trại Hoa Kỳ (American Tree Farm System- ATFS) năm 1941, tiếp đó là Hội đồng Quản trị Rừng (Forest Stewardship Council- FSC) năm 1993, Lembaga Ekolabel Indonesia (LEI), Forest Certification Schemes (PEFC) năm 1999 và Hệ thống chứng chỉ gỗ Malaysia MTCS (Malaysian Timber Certification Scheme -MTCS) năm 2001.
Cho đến cuối năm 2011, tổng diện tích rừng đƣợc quản lý bến vững, đƣợc cấp chứng chỉ theo các bộ tiêu chuẩn khác nhau là 401.552 ha, tƣơng đƣơng 10% tổng diện tích rừng toàn cầu [1].