Đặt vấn đề Nƣớc là tài nguyên vô cùng quý giá đối với sự sống các sinh vật sống trên Trái Đất. Trong cơ thể sinh vật nƣớc chiếm đến khoảng 70% nên nƣớc có vai trò quan trọng đối với duy trì sự sống của các sinh vật. Nƣớc là khởi nguồn của sự sống. Con ngƣời hay sinh vật thì cũng đều cần đến nƣớc để duy trì các hoạt động sống của mình.
Nhƣng hiện nay nguồn nƣớc ngày càng khan hiếm, số lƣợng và chất lƣợng nƣớc ở nhiều nơi đang bị suy giảm. Biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng làm ảnh hƣởng nguồn nƣớc cung cấp cho con ngƣời. Việc sử dụng không hợp lý tiết kiệm nƣớc cũng là nguyên nhân khiến nƣớc giảm về số lƣợng và chất lƣợng. Nhiều nơi ngƣời dân không có nƣớc sạch để sử dụng.
Ở Việt Nam theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng năm 2012 thì một trong ba ngƣời Việt Nam sống không có nƣớc sạch, mỗi ngày có ba sinh linh bé nhỏ chết vì mắc các bệnh liên quan đến nƣớc sạch. Mỗi năm có khoảng 9000 ngƣời tử vong vì nguồn nƣớc và điều kiện vệ sinh kém. Cũng theo đánh giá tổng hợp của Bộ, hàng năm gần 200.000 ngƣời mắc bệnh ung thƣ mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô nhiễm môi trƣờng nƣớc.Vấn đề cung cấp nƣớc sạch phục vụ cho ngƣời dân đang là vấn đề bức thiết đƣợc quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo Liên Hiệp Quốc, nƣớc sạch là một trong ba nhu cầu thiết yếu nhất của con ngƣời.
Trong 7 tỷ dân đang sinh sống trên thế giới có 1,1 tỷ ngƣời đang sống không có nƣớc sạch để dùng, 769 triệu ngƣời không đƣợc tiếp cận với hệ thống nƣớc sạch và 2,5 tỷ ngƣời đang bị ảnh hƣởng từ môi trƣờng sống mất vệ sinh vì thiếu nƣớc (Anh Thư (2014)) [14]. Chính vì nƣớc có tầm quan trọng rất lớn đối với cuộc sống, việc đảm bảo chất lƣợng sạch cho ngƣời dân sử dụng là vấn đề cần phải quan tâm hàng đầu hiện nay. n 2 Thị trấn Đông Khê có diện tích 1.618,21 ha với dân số 4. Dân số gia tăng, sự phát triển kinh tế.
khiến nguồn nƣớc sạch của địa phƣơng đang đứng trƣớc nguy cơ cạn kiệt, vì vậy mà việc cung cấp và đảm bảo chất lƣợng nƣớc sinh hoạt là vấn đề đƣợc các lãnh đạo quan tâm lo lắng. Trên địa bàn thị trấn tác nhân gây ô nhiễm nƣớc chủ yếu là do nƣớc thải sinh hoạt của các hộ gia đình và nƣớc thải trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Lƣợng nƣớc thải hằng ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nƣớc và môi trƣờng trong khu vực. Nguồn nƣớc chủ yếu mà ngƣời dân sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày là từ nƣớc máy, giếng khoan, giếng đào, nƣớc khe suối.
Do vậy mà, chất lƣợng nƣớc sinh hoạt chƣa đƣợc đảm bảo an toàn. Vào mùa mƣa nƣớc thƣờng hay bị nhiễm vẩn đục và các loại vi khuẩn gây bệnh. Xuất phát từ thực tế trên, đƣợc sự đồng ý của Ban giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trƣờng trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dƣới sự hƣớng dẫn của thầy giáo TS. Nguyễn Thanh Hải, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng ’’.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt đang sử dụng tại địa phƣơng, tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm, qua đó đƣa ra một số giải pháp để khắc phục những nguy cơ ô nhiễm, đáp ứng nhu cầu sử dụng nƣớc sạch tại địa phƣơng. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá tình hình sử dụng nƣớc sinh hoạt tại thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. - Đánh giá chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
n 3 - Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lƣợng nƣớc sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Ý nghĩa của nghiên cứu Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá vấn đề thực tế và hiện trạng chất lƣợng nƣớc sinh hoạt tại thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. - Tạo tƣ liệu làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, đề ra các giải pháp quản lý chất lƣợng nƣớc trên địa bàn thị trấn, có biện pháp nâng cao chất lƣợng nƣớc sinh hoạt ngƣời dân đang dùng đƣợc đảm bảo an toàn sức khỏe ngƣời dân. - Xác định những khó khăn, tồn tại để đƣa ra nhƣng giải pháp tốt hơn cho công tác cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn nƣớc tại thị trấn.
Ý nghĩa trong học tập - Là cơ hội giúp sinh viên biết cách nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học của nhà trƣờng vào thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế. - Bổ sung tƣ liệu cho học tập. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trƣờng.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.1 Một số khái niệm về nước Nƣớc là một tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trƣờng. Không có nƣớc, sự sống trên trái đất không thể tồn tại đƣợc nó quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nƣớc. Mặt khác nƣớc có thể gây ra tai họa cho con ngƣời và môi trƣờng.
Nƣớc có thể chia thành nhiều loại khác nhau, tùy theo đặc tính tự nhiên hay mục đích sử dụng của con ngƣời. Căn cứ vào đặc tính lý hoá của nƣớc, nƣớc có thể chia thành nƣớc mặn, nƣớc ngọt, nƣớc lợ… Căn cứ vào dạng tồn tại của nƣớc chia thành dạng lỏng (lỏng), dạng khí (hơi nƣớc), dạng rắn (băng, tuyết). Căn cứ vào nơi tồn tại, nƣớc gồm: nƣớc biển, nƣớc hồ, nƣớc ao… Căn cứ vào mục đích sử dụng thì có nƣớc dùng cho sinh hoạt, sản xuất và nuôi trồng thủy sản, thủy điện… Dƣới góc độ luật môi trƣờng, nguồn nƣớc đƣợc hiểu là “thành phần cơ bản của môi trƣờng, là yếu tố quan trọng hành đầu của sự sống”. Nƣớc mặt là nƣớc tồn tại trên mặt đất liền và hải đảo.
Nƣớc ngầm là nguồn nƣớc nằm dƣới bề mặt đất sỏi, và trong những tầng địa chất thấm qua đƣợc. Nƣớc sinh hoạt là nƣớc có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con ngƣời. Nƣớc sạch là nƣớc đảm bảo các yêu cầu sau: + Nƣớc trong, không màu. + Không có mùi vị lạ, không có tạp chất.
+ Không chứa chất tan có hại. + Không chứa mầm mống gây bệnh [2].2 Khái niệm ô nhiễm nước - Ô nhiễm nƣớc là sự thay đổi thành phần và tính chất nƣớc, có hại cho hoạt động sống bình thƣờng của sinh vật và con ngƣời, bởi sự có mặt của một hay nhiều chất lạ vƣợt quá ngƣỡng chịu đựng của sinh vật. n 5 - Hiến chƣơng Châu Âu về nƣớc đã định nghĩa về ô nhiễm nƣớc nhƣ sau:" Sự ô nhiễm nƣớc là một biến đổi chủ yếu do con ngƣời gây ra đối với chất lƣợng nƣớc, làm ô nhiễm nƣớc và gây nguy hại khi sử dụng cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi - giải trí, cho động vật nuôi cũng nhƣ các loài hoang dại”. - Ô nhiễm nƣớc có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo: + Nguồn gốc tự nhiên: Do mƣa, tuyết tan, gió, bão, lũ lụt.
Ô nhiễm này còn đƣợc gọi là ô nhiễm không xác định nguồn gốc. + Nguồn gốc nhân tạo: Là sự thải các chất độc hại chủ yếu dƣới dạng lỏng. Chủ yếu do xả nƣớc thải từ các vùng dân cƣ, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, phân bón trong nông nghiệp. - Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, ngƣời ta phân ra các loại ô nhiễm nƣớc nhƣ ô nhiễm vô cơ, ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý.
Hiện tƣợng ô nhiễm nƣớc xảy ra khi các loại hoá chất độc hại, các loại vi khuẩn gây bệnh, virut, kí sinh trùng phát sinh từ các nguồn thải khác nhau nhƣ chất thải công nghiệp từ các nhà máy sản xuất, các loại rác thải của các bệnh viện, các loại rác thải sinh hoạt bình thƣờng của con ngƣời hay hoá chất, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ. sử dụng trong sản xuất nông nghiệp đƣợc đẩy ra các ao, hồ, sông, suối hoặc ngấm xuống nƣớc dƣới đất mà không qua xử lí hoặc với khối lƣợng quá lớn vƣợt quá khả năng tự điều chỉnh và tự làm sạch của các loại ao, hồ, sông, suối. Các xu hƣớng chính thay đổi chất lƣợng nƣớc khi bị ô nhiễm. Giảm độ PH của nƣớc ngọt do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển, tăng hàm lƣợng SO2- và NO3- trong nƣớc.
Tăng hàm lƣợng các ion Ca2+, Mg2+, SiO32- trong nƣớc ngầm và nƣớc mƣa hòa tan, phong hóa các quặng cacbonat. n 6 Tăng hàm lƣợng các muối trong nƣớc bề mặt và nƣớc ngầm do chúng đi vào môi trƣờng nƣớc cùng nƣớc thải, từ khí quyển và từ các chất thải rắn. Tăng hàm lƣợng các chất hữu cơ, trƣớc khi là các chất khó phân hủy bằng con đƣờng sinh học (các chất hoạt động trên bề mặt và thuốc trừ sâu). Tăng hàm lƣợng các ion kim loại trong nƣớc tự nhiên, trƣớc hết là: Pb3+, Cd+, Hg2+, Zn2+, As3+, Fe2+, Fe3+.
Giảm nồng độ oxy tự nhiên hòa tan trong nƣớc tự nhiên do quá trình oxy hóa các hợp chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí. Giảm độ trong của nƣớc [9]. Khái niệm nước hợp vệ sinh Nƣớc hợp vệ sinh: là nƣớc đƣợc sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn các yêu cầu chất lƣợng: không màu, không mùi, không vị lạ, không chứa các thành phần có thể gây ảnh hƣởng tới sức khỏe con ngƣời, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi. Định nghĩa này còn định tính, cần kết hợp với những quan sát theo hƣớng sau đây: Giếng đào hợp vệ sinh: - Giếng đào phải nằm cách nhà tiêu, chuồng gia súc hoặc nguồn gây ô nhiễm khác ít nhất 10 m.
- Thành giếng cao tối thiểu 0,6 m đƣợc xây bằng gạch, đá, hoặc thả ống buy sâu ít nhất 3 m kể từ mặt đất. Sân giếng phải làm bằng bê tông hoặc lát gạch, đá, không bị nứt nẻ. Giếng khoan hợp vệ sinh: - Giếng khoan phải nằm cách nhà tiêu, chuồng gia súc hoặc nguồn gây ô nhiễm khác ít nhất 10 m. - Nền giếng phải lát gạch, đá hoặc làm bằng bê tông, không bị nứt nẻ.