Chương 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm cơ bản về ung thư: 1. Bản chất của bệnh ung thư: Ung thư là một bệnh lý “ác tính” của tế bào. Khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể.
Đa số người bệnh ung thư hình thành các khối u, khác với các khối u lành tính (chỉ phát triển rất chậm, có vỏ bọc xung quanh) các khối u ác tính (ung thư) xâm lấn vào các tổ chức lành xung quanh giống như hình “con cua” với các càng cua bám vào các tổ chức lành trong cơ the hoặc giong như rễ cây lan trong đất. Các tế bào của khối u ác tính có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc các tạng ở xa hình thành các khối u và cuối cùng dẫn tới tử vong [17]. Người ta biết được có đến hơn 200 loại ung thư khác nhau trên cơ thể người, những loại ung thư này tuy có những đặc điểm giống nhau về bản chất nhưng chúng có nhiều diêm khác nhau về: nguyên nhân, tiến triển, phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh [17]. Đa sổ ung thư có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát triển lâu dài qua từng giai đoạn.
Trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em có thể do đột biến gien từ lúc bào thai, còn phần lớn các ung thư đều có giai đoạn tiềm tàng lâu dài, khi khối u phát triển nhanh mới có các triệu chứng ung thư [17]. Phuong pháp đánh giá xếp giai đoạn bệnh ung thư: Đối với bệnh ung thư đánh giá mức độ xâm lấn, xếp giai đoạn là cần thiết giúp các bác sĩ trong việc tiên lượng bệnh, làm cơ sở cho việc áp dụng các phác đồ điều trị hợp lý và là phương pháp đế so sánh hiệu quả của các phương pháp diều trị. Theo cách xếp loại kinh dien áp dụng cho ung thư hệ đặc (Solid tumor) dược xếp loại theo giải phẫu bệnh và chia làm các giai đoạn như sau [18].1: xếp giai đoạn theo kinh điển của bệnh ung thư: Giai đoạn Mô tả Ung thư tại chỗ (không xâm lấn và không có di căn theo đường c0 limphô hoặc đường máu) Giai đoạn ĩ Xâm lấn tại chồ còn sớm, nhưng không có di căn sớm Bướu ăn lan với mức độ giới hạn và (hoặc) di căn đến các hạch II limphô tại vùng Bướu ăn lan rộng ra và (hoặc) di căn nhiều đến các hạch limphô tại III Giai vùng đoạn Bướu ăn tan rất nhiều hoặc mọi tình huống có di căn xa, bất chấp IV muộn tình trạng xâm nhiễm của bướu. Mục đích điều trị bệnh ung thư Ung thư cỏ nhiều loại, mỗi loại đều khác nhau về nguyên nhân, phát triển và tiên lượng.
Điều trị bệnh ung thư cần dựa vào bản chất mô bệnh học của bệnh, giai đoạn của bệnh, mục đích điều trị, toàn trạng của người bệnh và một sổ yếu tố khác. Mục đích điều trị ung thư bao gồm điều trị triệt căn và điều trị tạm thời. Điều trị triệt căn nhằm giải quyết tận gốc với hy vọng chữa khỏi bệnh, kéo dài thời gian sống và hạn chế khẳc phục tối đa hậu quả của các phưong pháp điều trị. Mục đích điều trị này thường được áp dụng cho các ung thư giai đoạn sớm [14], Điều trị tạm thời thường được áp dụng cho các bệnh nhân ung thư ở giai đoạn muộn, vượt quá khả năng chữa khỏi, khi đó điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng để cải thiện chất lượng sống và kéo dài tối đa thời gian sổng là tiêu chí chính cho các bệnh nhân này [14J.
Van đề chất lượng cuộc sống cũa bệnh nhân ung thư: 1. Khái niệm về chất lượng sống Chât lượng cuộc sống (CLCS) là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong khoa học xã hội liên quan đến các khía cạnh khác nhau của đời sống. Thuật ngữ này được đo lường thông qua việc cá nhân tự đánh giá diều kiện kinh tế cũng như 6 những kỳ vọng chung về cuộc sống như giáo dục, nhà ở, hỗ trợ xã hội và sức khỏe. nên đây là một khái niệm mang tính chủ quan.
Tổ chức Y tế Thể giới (WHO) định nghĩa CLCS là “sự hiểu biết của cá nhân về vị trí xã hội của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các giá trị mà họ thuộc về; và trong mối quan hệ với các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ” [43], Thuật ngữ CLCS là một thuật ngữ đa chiều, vì vậy, việc phân tích các chỉ báo đo lường CLCS được nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nghiên cứu với những tiêu chí khác nhau. Việc đánh giá CLCS trong các nghiên cứu thường thông qua việc các cá nhân tự đánh giá, vì vậy các nhà nghiên cứu xây dựng các thang đo để đánh giá CLCS phát triển qua từng thời kỳ với các tiêu chí đánh giá khác nhau. Từ năm 1985, Ed Diener đã xây dựng thang đo lường sự hài lòng với cuộc sống là một thang đo được sử dụng trên toàn cầu để đo lường sự hài lòng với cuộc sống của mọi người. Mỗi câu hỏi được đánh giá trên thang điểm 7 từ rất không đồng ý đen hoàn toàn đồng ý.
Bộ thang đo Subjective Happiness Scale (SHS) được Sonja Lyubomirsky đưa ra năm 1999 là thang đo hạnh phúc chủ quan của mồi cá nhân, được sử dụng trên toàn cầu. Bộ công cụ SHS gồm 4 câu hỏi mỗi câu cũng được đánh giá trên thang điểm 7 như Ed Diener. Thang đo đã được kiểm định về độ tin cậy và được xác nhận tính giá trị khi sử dụng dế đo lường hạnh phúc chủ quan. Các bộ công cụ ngày càng được hoàn thiện và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới.
Bộ công cụ WHOQOL - 100 của WHO đưa ra là bộ công cụ cập nhật nhiều nhất các khía cạnh của CLCS, bao gồm 6 khía cạnh: thể chất, tâm lý, xã hội, tâm linh, kinh tế và môi trường dược xem là bộ công cụ đo lường sức khỏe toàn diện, chi tiết [45]. Cho đến nay rất nhiều bộ công cụ đánh giá CLCS đã được xây dựng và phát triển cho từng nhóm đối tượng với các đặc điềm khác nhau trong đó có bệnh nhân ung thư. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư: Với bệnh nhân ung thư cũng như các bệnh nhân khác CLCS tốt nhất là đưa bệnh nhân ung thư về trạng thái sức khoẻ, tâm lý và hoạt động sống càng gần với đời song bình thường càng tốt. Có nhiều chỉ tiêu đánh giá về CLCS của bệnh nhân 7 khác nhau tuỳ theo bệnh, mức độ chăm sóc, khả năng điều trị.
điều kiện của bệnh nhân.Tựu trung chất lượng sống bệnh nhân ung thư thường là kết quả tổng hợp của trạng thái sức khoẻ cá nhân, chức năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, những hoạt động tâm sinh lý cá nhân và các hoạt động cá nhân trong sinh hoạt, học tập, lao động thường ngày [32]. Trong ung thư CLCS của bệnh nhân chịu nhiều yếu tố tác động về bệnh lý, chân đoán, điều trị, chi phí, tiên lượng bệnh.CLCS liên quan đến sức khỏe là vấn đề đa diện bao gồm các khía cạnh về: thể chất, tinh thần và xã hội [32]. Khía cạnh sức khỏe thể chất: Đối với bệnh nhân ung thư khía cạnh sức khỏe thể chất liên quan đến vấn đề về hoạt động, vai trò hoạt động, vấn đề đau và tình trạng sức khỏe chung. Các vấn đề của khía cạnh sức khỏe thể chất được đề cập rất chi tiết trong các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư.
Thể hiện qua các câu hỏi về khả năng hoạt động cá nhân cả về trí óc cũng như hoạt động chân tay trong cuộc sống hàng ngày như sinh hoạt, lao động, học tập. Trong bộ công cụ QLQ - C30 khía cạnh này còn được đề cập đến ở các câu hỏi về tình trạng đau và các chỉ số triệu chứng như khó thờ, nôn, táo bón, tiêu chảy ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân. Khía cạnh tinh thần: Được thể hiện và đánh giá qua các hoạt động tâm sinh lý của con người: những trạng thái về tinh thần như tâm trạng thoải mái, lo lang, những cảm xúc như yêu, ghét, vui, buồn. những năng lực về tinh thần như giải trí, giao tiếp, ham muốn ., những hoạt động sinh lý như tình dục cũng phản ánh chất luợng sống của bệnh nhân.
Đối vối bệnh nhân ung thư những ảnh hưởng tâm sinh lý là khía cạnh rất quan trọng đối với kết quả diều trị và cũng là hệ quả của điều trị. Kết quả điều trị sẽ tôt khi người bệnh thoải mái, hiểu rõ quá trình chữa bệnh, những kết quả đạt được và những tổn thất phải chấp nhận. Những kết quả không mong muốn thường xảy ra ở những người chán nản buồn bã, không hợp tác chữa bệnh, thay đổi phương án diều trị. Khía cạnh xã hội: Các mối quan hệ xã hội xã hội của bệnh nhân ung thu là một trong những nội dung được đánh giá trong các nghiên cứu về chất lượng cuộc sống.
Mối quan hệ sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè đối với bệnh nhân trong quá trình điều trị. Gia đình, thầy thuốc, những người xung quanh và cả xã hội là những yếu tố tác động tích cực đến bệnh nhân nếu cư xử đúng mực, tích cực giải quyết những vướng mắc tồn tại, sẽ cải thiện được CLCS đưa bệnh nhân tái hoà nhập trở lại cộng đồng. Điều trị chăm sóc giảm nhẹ bệnh nhân ung thu’: Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư là sự kết hợp nhiều biện pháp để làm giảm sự chịu đựng và cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh thông qua phòng ngừa, phát hiện sớm, điều trị đau, các vấn đề tâm lý và thực thể khác, tư vấn và hỗ trợ nhàm giải quyết những vấn đề xã hội và tâm linh mà gia đình bệnh nhân và gia đình đang phải gánh chịu [13], Mục đích của chăm sóc giảm nhẹ là nâng cao CLCS cho bệnh nhân ung thư và góp phần kéo dài thêm cuộc sống, giúp đỡ người bệnh tái hòa nhập cộng đồng để trở thành người còn có ích cho xã hội.