CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TAC QUAN LÝ VAN HANH TOA NHÀ VAN PHONG VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CẢM NHAN CUA KHÁCH HANG VE CÔNG TAC QUAN LY VẬN HANH TOA NHÀ VĂN PHONG 1. Tổng quan về bat động sản tòa nhà văn phòng 1. Khái niệm Văn phòng Theo quan niệm truyền thống, văn phòng là nơi thực hiện các hoạt động quản lý, văn thư của một cơ quan hành chính hoặc tô chức kinh doanh.
Tại đây, các nhân viên trong văn phòng sẽ thực hiện các công việc trong bồn phận của minh, như: thu thập thông tin; ghi chép; phân tích; hoạch định chính sách — kế hoạch; tô chức, ra quyết định. Theo quan niệm hiện đại, văn phòng xuất hiện nhiều hoạt động đa dạng hơn. Cu thé, văn phòng là nơi mà các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện các công việc điều hành điều phối mọi hoạt động có thê xảy ra trong tô chức đó. Moi tổ chức, doanh nghiệp được thành lập đều có những mục tiêu nhất định.
Và văn phòng là nơi dé các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động nhăm đạt tới mục tiêu này. Văn phòng chính là trung tâm dé mọi hoạt động của tổ chức diễn ra. Một vài chức năng cơ bản của văn phòng như: tiếp nhận và thu thập thông tin; ghi chép, thống kê, phân tích thông tin; lưu trữ thông tin và phân phối thông tin. Tất cả hoạt động này sẽ được diễn ra tại văn phòng một cách liên tục và trơn tru theo quy tắc nhất định của tô chức, doanh nghiệp đó.
Tòa nhà văn phòng Như vậy, có thê nói tòa nhà văn phòng là một tòa nhà cao tâng, có diện tích lớn, được thiệt kê và xây dựng nhăm phục vụ cho nhu câu văn phòng của các công ty, tổ chức lớn nhỏ. Là một dạng tòa nhà cao tầng, tòa nhà văn vòng có đầy đủ những đặc điểm cơ bản của một bat động sản cao tang. Nó được xây dựng kiên có, rộng lớn và có nhiều tầng. Các tòa nhà văn phòng được xây dựng phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau nhưng đều sẽ có điểm chung là cung cấp nơi làm việc thuận lợi và tiện nghỉ nhất tới cho các tổ chức, doanh nghiệp kinh doanh.
Ngoài ra, các tòa nhà văn phòng cũng thường có đặc điểm chung là được chia thành những khoảng không riêng biệt, ngăn cách nhau và di chuyền bởi lối đi chung, hệ thống thang máy, thang bộ. Tùy vao quy mô và diện tích của tòa nhà mà diện tích của từng khu vực phân chia sẽ có sự thay đổi. Đặc điểm Toa nhà văn phòng về co bản là một loại hình bat động sản, do đó nó có đầy đủ những đặc điểm của một hàng hóa bất động sản nói chung. Theo Hoàng Văn Cường (2017), một hàng hóa là bất động sản bao gồm những đặc điểm: tính có định về vị trí; tính lâu bền; tính đa dạng và khác biệt; tính ảnh hưởng lẫn nhau; là hàng hóa có giá trị lớn; chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước; giá trị, công năng và khả năng khai thác của hàng hóa bat động sản phụ thuộc vào năng lực quản lý.
Tính có định về vị trí Tòa nhà văn phòng cũng là một loại hàng hóa bất động sản như bao tòa nhà cao tầng khác, nó được xây dựng và gan liền với đất đai. Do đó, nó có tính cố định về vị trí. Tuy nhiên, có 2 loại vị trí của bất động sản trong trường hợp này. Thứ nhất là vị trí tuyệt đối.
Vi trí tuyệt đối là vi tri địa lý thé hiện tính chính xác của tòa nhà văn phòng đó trên bản đồ, có định và không thé di doi. Thứ hai là vị trí tương đối, hay còn gọi là vị trí kinh tế xã hội. Nó chỉ mối quan hệ giữa tòa nhà văn phòng với vị trí của các bất động sản liên quan khác. Yếu tố này mang tính tương đối, bởi nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của khu vực mà tòa nhà văn phòng ấy tọa lạc.
Vị trí tương đối được đo lường bằng khoảng cách từ tòa nhà văn phòng này tới trung tâm đô thị, các điểm dịch vụ công cộng, cơ sở hạ tầng, các tiện ích xung quanh,. Vị trí kinh tế xã hội của một tòa nhà văn phòng cũng là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định nên giá trị của nó. Tỉnh lâu bên Trên thực tế, các yếu tố vật chất của đất đai, công trình xây dựng thường tồn tại lâu dài, có thể lên tới vài chục đến cả trăm năm. Tính lâu bền của tòa nhà văn phòng cùng có 2 loại.
Thứ nhất là tuổi thọ vật lý, là khoảng thời gian từ khi tòa nhà được xây dựng hoàn thiện và đi vào hoạt động cho tới khi hỏng hóc và không thể sử dụng được nữa. Khoảng thời gian này có thể dài hơn hoặc ngắn hơn phụ thuộc vào kết cầu của công trình và quá trình đưa công trình vào khai thác sử dụng. Thứ hai là tuôi thọ kinh tế, là khoảng thời gian mà từ khi bắt đầu tòa nhà văn phòng được đưa vào khai thác và hoạt động cho tới khi bản thân nó không còn giá trị về kinh tế cho chủ đầu tư hay người sở hữu nó. Tuổi thọ kinh tế và tuôi tho vật lý có thé có sự chênh lệch nhau.
Thông thường, tuổi thọ vật lý có thể lớn hơn tuổi thọ kinh tế, và tuôi thọ kinh tế có thé quyết định đến tuôi tho vật ký của tòa nhà. Công việc QLVH tòa nhà chính là một yếu tố góp phần quyết định mức độ lâu bền cho tòa nhà cả về mặt kinh tế và vật lý. Tinh da dạng và khác biệt Các tòa nhà văn phòng déu có những khác biệt về vi trí, hướng, thiệt kê, kiên trúc, hay khác biệt trong kêt câu, cảnh quan, môi trường,. nên không bao giờ có tòa nha nào giống tòa nhà nào.
Và vì vậy, mỗi tòa nhà là một bat động sản riêng va khác biệt với các bât động sản khác. Tinh ảnh hưởng lan nhau Dù là giữa các tòa nhà văn phòng với nhau hay là các bất động sản xung quanh, chúng đều có một mức độ ảnh hưởng lên nhau. Có thé là ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế xã hội trong khu vực, ảnh hưởng bởi các tiện ích xung quanh, môi trường sống quanh tòa nhà,. Mặt khác, các loại bất động sản sản cũng ảnh hưởng các tòa nhà văn phòng về công dụng, đặc tính hay giá tri.
Sự ra đời, hoan thiện hoặc xuống cấp của các bất động sản và cơ sở hạ tầng quanh khu vực tòa nhà sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới giá trị, khả năng tiếp cận, khả năng khai thác sử dụng của tòa nhà văn phòng. La hàng hóa có gia tri lớn Các tòa nhà văn phòng đều là những tòa nhà có diện tích lớn, chi phí đầu tư xây dựng rất cao, thời gian xây dựng dài. Vì thế nó có giá trị rất lớn. Bên cạnh đó, giống như một loại hàng hóa bất động sản thông thường, tòa nhà văn phòng cũng có khả năng sinh lời trong tương lai cao, có khả năng bảo tòan giá trị và tái tạo vốn moi.
Chiu sự chỉ phối va quan lý của nhà nước Tòa nhà văn phòng cũng như bất động sản nói chung, là tài sản của quốc gia. Các tòa nhà đều được xây dựng gắn liền với đất đai, mà đất đai thuộc sở hữu tòan dân do nhà nước đứng ra quản lý. Vì vậy, tòa nhà văn phòng phải chịu sự quản lý trực tiép cua nhà nước. Các vân đê liên quan tới tòa nhà như hoạt động thuê mua, giao dịch, các tiêu chuẩn kỹ thuật, quyền sở hữu, việc QLVH va sử dụng an tòan,.
đều được pháp luật quy định. Các điều này được quy định cụ thé trong luật đất dai luật kinh doanh bat động sản, và các nghị định, thông tư khác của cơ quan quản ly nhà nước về đât đai và bât động sản. Giá trị, công năng và khả năng khai thác của hàng hóa bất động sản phụ thuộc vào năng lực quản ly Tòa nhà văn phòng là tài sản có giá trị lớn, có kết cấu đa dạng phức tạp và có khả năng sinh lợi lớn, do đó dé phát huy hết công dụng của tòa nhà rất cần có đội ngũ quản lý và khai thác hợp lý, khoa học, uy tín và chuyên nghiệp. Không những vậy, tòa nhà còn là nơi nghiên cứu và làm việc của nhiều cán bộ nhân viên ở nhiều bộ phận, tô chức khác nhau, sẽ có những không gian làm việc riêng tư và không gian sử dụng chung.
Đối với những doanh nghiệp đặt văn phòng tại đây, họ hết sức tin tưởng tòa nhà sẽ đem tới không gian và môi trường thuận lợi nhất để họ chuyên tâm cho công việc. Vì thế, việc quản lý và khai thác tòa nhà văn phòng càng trở nên phức tạp, quan trọng và cấp thiết. Nó đòi hỏi đơn vị quản lý phải có kỹ năng, có chuyên môn và am hiểu những công việc cần thiết trong công tác QLVH một tòa nhà. Phân loại Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có một khung lý thuyết hoàn chỉnh cho việc xác định và phân loại văn phòng.
Việc thiếu dữ liệu sẵn có về bất động sản thương mại gây ra khó khăn trong việc nghiên cứu phân loại văn phòng (Dunse và cộng sự, 2001; Nappi Choulet và cộng sự, 2007). Do đó, tất cả những quan điểm hay khái niệm về việc phân loại các tòa nhà văn phòng đều dựa trên ý kiến chủ quan của người phân tích chứ không được dựa trên bất kỳ lý thuyết liên quan (Olayonwa và cộng sự, 2011). Theo Olayonwa và cộng sự (2011), một số tiêu chí đã được xem xét và đưa vào như cách dé phân loại văn phòng, như phân loại dựa trên tuổi văn phòng; phân loại văn phòng dựa trên thời gian thuê hoặc mức giá cho thuê. Theo Hiệp hội chủ sở hữu và Quản lý tòa nhà quốc tế (Building Owners and Managers Association International, BOMA international), không gian văn phòng được phân làm 3 loại.
Sự phân loại này hoàn tòan dựa trên đánh giá chủ quan về chất lượng của các tòa nhà cũng như khả năng cạnh tranh của chúng để thu hút khách hàng. Theo đó, văn phòng được đánh giá theo các yếu tố bao gồm tiền thuê, sự hoàn thiện của tòa nhà, các tiêu chuẩn và hiệu quả của HTKT, sự tiện nghi, vi trí và khả năng tiếp cận của chúng. Cụ thê, BOMA phân làm 3 loại văn phòng A, B, C.