ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng và đất rừng là tài nguyên quý giá của con người, là tư liệu sản xuất chủ yếu để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Để rừng được bảo vệ và phát triển tốt cũng như làm tăng được những giá trị mà rừng mang lại một cách bền vững thì rừng cần phải được gắn với chủ quản lý sử dụng một cách cụ thể. Vấn đề giao đất, giao rừng gắn với chủ quản lý sử dụng cụ thể đã được thực hiện từ rất lâu ở trên thế giới. Chính phủ các nước có nền kinh tế phát triển như Thụy Điển, Nhật Bản, Pháp, Ấn Độ… rất quan tâm chú ý tới những vấn đề này.
Ở Thụy Điển nhà nước chỉ quản lý 25% diện tích rừng và đất rừng, các công ty lớn sở hữu 25%, còn lại 50% diện tích rừng và đất rừng còn lại thuộc sở hữu của các hộ tư nhân. Bên cạnh đó, chính phủ nhiều nước còn thực hiện nhiều giải pháp nhằm khuyến khích người dân tham gia quản lý sử dụng rừng một cách hiệu quả như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển lâm nghiệp, hỗ trợ các hoạt động lâm sinh, cho vay vốn với lãi suất thấp,… Ở Việt Nam, vấn đề giao đất giao rừng diễn ra là tương đối chậm so với thế giới và có sự diễn biến phức tạp theo các thời kỳ, nó phụ thuộc vào ý thức của con người, điều kiện kinh tế, xã hội và đặc biệt là chủ trương chính sách của Nhà nước. Trước năm 1986, Việt Nam chỉ công nhận 2 đối tượng quản lý sử dụng rừng hợp pháp là lâm trường quốc doanh và hợp tác xã. Vì vậy, việc phát triển rừng trong giai đoạn này ít mang lại hiệu quả, đặc biệt là đối với phát triển kinh tế của những người dân sống gần rừng.
Từ sau năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới về tư duy phát triển kinh tế trong đó có sự thay đổi tư duy về quản lý sử dụng rừng. Trong giai đoạn này rừng được gắn với chủ sở hữu cụ thể và nhà nước không ngừng từng bước có những chính sách nhằm khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng như: n 2 cho vay vốn lãi xuất thấp, giảm thuế thuê đất và đặc biệt hơn là nhà nước đã tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân yên tâm phát triển rừng. Chính vì vậy, rừng của nước ta đã không ngừng được phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện giao đất, giao rừng ở các địa phương bên cạnh những mặt đã đạt được thì vẫn còn rất nhiều những mặt hạn chế, yếu kém cả về mặt chính sách lẫn việc tổ chức thực hiện gây cản trở công tác giao đất, giao rừng.
Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp (QHSDĐ-GĐLN) có sự tham gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo quyền sử dụng đất lâm nghiệp và sử dụng tài nguyên rừng của người dân nhằm nâng cao điều kiện sống và cải thiện công tác bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của chính họ. Giao đất lâm nghiệp là một nhiệm vụ mang tính xã hội sâu sắc. Việc chỉ thiết kế giao đất lâm nghiệp từ bên ngoài mang tính chủ quan của cán bộ quản lí và kỹ thuật sẽ kém thích ứng với điều kiện của người dân, cộng đồng, kém hiệu quả và không bền vững. Vì vậy, giao đất lâm nghiệp cần tiến hành theo cách tiếp cận có sự tham gia trực tiếp của người dân, thôn bản trong suốt tiến trình từ chuẩn bị cho đến khi tổ chức giao trên thực địa.
Huyện Pác Nặm là một huyện miền núi vùng cao thuộc tỉnh Bắc Kạn có diện tích rừng rất lớn. Rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nhất là đối với đời sống của người dân nơi đây, đất lâm nghiệp là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng đối với người dân miền núi, vùng cao. Trước đây, công tác quy hoạch và giao đất lâm nghiệp thường được triển khai thiếu tính khoa học, chồng chéo, mất công bằng. dẫn tới khiếu nại và tranh chấp tình trạng “mạnh ai người nấy nhận” xảy ra phổ biến nên hộ thì rất nhiều đất, có những hộ nghèo lại không có đất hoặc hầu hết các hộ nhận đất trên sổ và thực địa khác nhau, ….
n 3 Năm 2009, Dự án 3PAD “Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp Bắc Kạn” tiến hành giao đất với phương pháp tiếp cận có sự tham gia theo quy trình 7 bước gồm quy hoạch và giao đất. Dự án này bước đầu đã được đánh giá thành công. Tuy nhiên chưa có những đánh giá tác động của hoạt động này một cách đầy đủ để làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc thực thi chính sách giao đất rừng của chính phủ. Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu: “Đánh giá ảnh hưởng của việc quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia tại vùng dự án 3PAD huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn” là rất cần thiết cả về ý nghĩa khoa học và lý luận thực tiễn.
n 4 Phần 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Tình hình quy hoạch sử dụng đất Trên thế giới công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã được tiến hành từ nhiều năm trước vì thế họ đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu. Hiện nay công tác này đang được chú trọng và phát triển, nó vẫn chiếm vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
Theo tổ chức FAO, quy hoạch sử dụng đất đai là bước kế tiếp của công tác đánh giá đất. Kết quả của việc đánh giá đất đai sẽ đưa ra những loại hình sử dụng đất hợp lý (FAO, 1976)[5]. Trên thế giới có rất nhiều loại hình sử dụng đất, phương pháp quy hoạch đất đai tuỳ vào đặc điểm của mỗi nước. Nhìn chung có hai trường phái quy hoạch chính.
Trường phái thứ nhất là tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đảm bảo các mục tiêu một cách hài hoà, sau đó mới đi sâu vào nghiên cứu quy hoạch chuyên ngành, như các nước Đức, Anh, Úc,. Trường phái thứ hai là tiến hành quy hoạch nông nghiệp là nền tảng, sau đó làm quy hoạch cơ bản, lập sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất yêu cầu của cơ chế, kế hoạch hoá tập trung. Lao động và đất đai là yếu tố cơ bản của vấn đề nghiên cứu, như Liên Bang Nga và các nước xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra ở các nước khác còn có các phương pháp quy hoạch đất đai mang tính đặc thù và riêng biệt như ở Bungari quy hoạch lãnh thổ đất đai được phân thành các vùng đặc trưng gắn liền với bảo vệ thiên nhiên và môi trường.
Ở Pháp quy hoạch sử dụng đất được xây dựng theo hình thức mô hình hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng tài nguyên và lao động, n 5 áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc hợp lý, tăng hiệu quả sản phẩm của xã hội. Ở Nam Mỹ đã tiến hành lập đồ án quy hoạch mặt bằng ở cấp quốc gia. Đồ án này sẽ làm căn cứ cho chính quyền cấp tỉnh soạn thảo các đồ án chi tiết hơn với sự phối hợp của chính quyền cấp thấp hơn. Các đồ án quy hoạch dựa vào sự điều tra tài nguyên thiên nhiên ở cấp tiếp theo (cấp huyện).
Các nhà chức trách địa phương bổ sung chi tiết hơn các đồ án đó với sự phối hợp của các chủ sử dụng đất (FAO 1993) [22]. Ở Thái Lan việc quy hoạch phân theo 3 cấp, gồm cấp quốc gia, cấp vùng và cấp địa phương. Quy hoạch nhằm thể hiện cụ thể những chương trình kinh tế - xã hội của Hoàng gia Thái Lan, gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý nhà nước, phối hợp với tổ chức chính phủ và chính quyền địa phương. Dự án phát triển Hoàng gia đã xác định vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội, chính trị ở Thái Lan.
Các dự án đều tập trung vào vấn đề như đất đai, nông nghiệp, lao động,. Ở các nước như Trung Quốc, Lào, Campuchia công tác quy hoạch đất đai bắt đầu phát triển nhưng mới dừng lại ở quy hoạch tổng thể các ngành. Để có phương pháp chung làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch đất đai trên phạm vi toàn thế giới, năm 1993 tổ chức FAO đã đưa ra quan điểm quy hoạch đất đai nhằm sử dụng đất một cách có hiệu quả bền vững và đáp ứng tốt các nhu cầu của hiện tại và môi trường. Phương pháp quy hoạch đất đai được áp dụng ở 3 cấp quốc gia, tỉnh, địa phương.
Tình hình giao đất lâm nghiệp Vấn đề giao đất lâm nghiệp đã được các nước trên thế giới quan tâm thực hiện từ rất lâu, có thể điểm qua tình hình giao đất lâm nghiệp tại một số quốc gia như sau: n 6 Ở Thụy Điển, nhà nước quản lý 25% diện tích rừng và đất rừng, các công ty lớn sở hữu 25%, còn lại 50% diện tích rừng và đất rừng và đất rừng còn lại thuộc sở hữu của các hộ tư nhân. Ở Nhật Bản, có 3 hình thức sở hữu đất lâm nghiệp đó là sở hữu nhà nước, sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân gồm: - Nhà nước sở hữu 7,84 triệu ha chiếm 31,2% rừng và đất rừng của cả nước, những diện tích rừng và đất rừng này chủ yếu ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình hiểm trở,… thuộc quyền quản lý của Cục Lâm nghiệp - Bộ Nông lâm thủy sản. - Các tổ chức chính quyền địa phương sở hữu trên 2,7 triệu ha chiếm 10,74%. Các công ty tư nhân và các hộ gia đình sở hữu 14,6 triệu ha, chiếm 58,1%.
Có tới 88% chủ rừng là các hộ tư nhân, trong đó phần lớn các chủ rừng sở hữu dưới 5 ha đất lâm nghiệp nên các chủ rừng này liên kết với nhau thành các hội. Hiện nay, ở Nhật Bản có khoảng 1.430 Hội các chủ rừng với 1. Chính phủ có chương trình trợ cấp nhằm hỗ trợ cho các hoạt động lâm sinh, xây dựng đường lâm nghiệp thông qua Hội các chủ rừng, ngoài ra các chủ rừng còn được ưu tiên vay vốn để sản xuất kinh doanh với lãi xuất thấp, đồng thời còn được giảm thuế đất lâm nghiệp. Ở Pháp, rừng tư nhân chiếm khoảng 10 triệu ha và rừng nhà nước chỉ chiếm khoảng 4 triệu ha.