Tổng quan nghiên cứu

Thương mại quốc tế và tự do hóa kinh tế luôn là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng năng suất toàn cầu. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại tại các quốc gia đang phát triển thường tạo ra những tác động đa chiều phức tạp. Vào tháng 12 năm 2013, ngành thép không gỉ tại Việt Nam chứng kiến bước ngoặt lớn khi Bộ Công Thương tiến hành điều tra và quyết định áp mức thuế chống bán phá giá tạm thời từ 6,45% đến 30,73% đối với sản phẩm thép không gỉ cán nguội nhập khẩu từ 4 quốc gia và vùng lãnh thổ gồm Trung Quốc, Malaysia, Indonesia và Đài Loan. Quyết định này xuất phát từ đơn kiện của hai nhà sản xuất lớn trong nước, trong đó có doanh nghiệp chiếm công suất 235.000 tấn cán nguội mỗi năm, nhằm ngăn chặn nguy cơ thua lỗ trước làn sóng thép ngoại giá rẻ.

Mặc dù chính sách bảo hộ mang lại lợi thế phòng thủ ngắn hạn cho các nhà sản xuất thượng nguồn, nhưng nó lập tức gây ra áp lực nặng nề cho các ngành công nghiệp hạ nguồn. Hơn 18 doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và vật liệu xây dựng sử dụng nguyên liệu inox đã gửi đơn kiến nghị vì giá thép nguyên liệu nội địa vốn đã cao hơn thị trường thế giới từ 10% đến 20%. Đề tài nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thu Hương, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Ngãi tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2014, được thực hiện nhằm giải quyết bài toán cấp bách này. Luận văn hướng tới hai mục tiêu trọng tâm: ước lượng tổn thất chi phí và phân bổ phúc lợi kinh tế thông qua mô hình cân bằng từng phần, đồng thời phân tích định lượng mức độ ảnh hưởng của chính sách bảo hộ đến sự phát triển của các doanh nghiệp tiêu thụ thép tại Việt Nam trong giai đoạn 2013 - 2014. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học giúp cơ quan quản lý cân đối hài hòa lợi ích giữa các bên và hỗ trợ doanh nghiệp hạ nguồn xây dựng lộ trình thích ứng dài hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng nền tảng dựa trên các học thuyết kinh tế kinh điển và hiện đại về thương mại quốc tế. Trước hết, lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo và mô hình Heckscher - Ohlin - Samuelson khẳng định thương mại tự do giúp tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực quốc gia. Tiếp đó, Thuyết thương mại mới của Paul Krugman công bố năm 1979 đóng vai trò trụ cột khi chỉ ra rằng lợi thế thương mại nội ngành xuất phát từ tính kinh tế theo quy mô và sự đa dạng hóa sản phẩm; tuy nhiên, Krugman cũng cảnh báo việc lạm dụng bảo hộ mậu dịch dễ gây tổn hại đến các ngành công nghiệp phụ thuộc đầu vào.

Để định lượng tác động bảo hộ, luận văn sử dụng Mô hình cân bằng từng phần do Peter Uimonen phát triển, kết hợp phương pháp phân tích phúc lợi của Morkre và Tarr năm 1980 cùng các nghiên cứu của Hufbauer và Elliott năm 1994. Khung lý thuyết này làm rõ 4 khái niệm học thuật cốt lõi:

  • Bảo hộ thương mại: Việc chính phủ sử dụng rào cản thuế quan hoặc phi thuế quan để bảo vệ nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu.
  • Hàng rào thuế quan và thuế chống bán phá giá: Biện pháp áp thuế bổ sung đối với hàng hóa nhập khẩu có mã hồ sơ 7219 và 7220 khi phát hiện hành vi bán phá giá gây thiệt hại cho sản xuất nội địa.
  • Tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa: Chênh lệch tỷ lệ giữa giá bán trong nước và giá quốc tế sau khi đã tính thuế và chi phí phát sinh theo nghiên cứu của Frank Flatters năm 2003.
  • Thặng dư kinh tế: Sự chuyển dịch phúc lợi giữa thặng dư tiêu dùng, thặng dư sản xuất, nguồn thu ngân sách nhà nước và khoản mất mát tải trọng xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ theo hai giai đoạn độc lập nhưng bổ trợ toàn diện cho nhau:

Giai đoạn 1 ứng dụng mô hình cân bằng từng phần để tính toán độ co giãn của cung cầu và ước lượng sự thay đổi giá cả cũng như sản lượng. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ số liệu hải quan, thống kê của Cục Quản lý cạnh tranh và các báo cáo ngành thép trong 4 tháng đầu năm 2014, từ đó dự báo cho cả năm 2014. Phương pháp này kế thừa các tham số co giãn thay thế không đổi từ nghiên cứu ngành thép của Phan Hữu Nhật Minh năm 2002 nhằm xác định điểm cân bằng thị trường mới.

Giai đoạn 2 kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đánh giá tác động của bảo hộ đến sự phát triển của doanh nghiệp sử dụng thép. Nghiên cứu định tính thực hiện thông qua phỏng vấn sâu với 5 lãnh đạo doanh nghiệp tiêu thụ lượng lớn inox để hiệu chỉnh bảng câu hỏi và thang đo. Nghiên cứu định lượng được thực hiện trên mẫu khảo sát gồm 109 doanh nghiệp tại Việt Nam từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2014. Cỡ mẫu 109 hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn thống kê nghiêm ngặt theo quy tắc của Hair và cộng sự năm 2009 với tối thiểu 5 mẫu trên một biến quan sát cho 22 biến, đồng thời thỏa mãn công thức xác định cỡ mẫu của Tabachnick và Fidell năm 2007 cho phân tích hồi quy bội. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để tiếp cận nhanh các doanh nghiệp đang trực tiếp chịu áp lực chi phí nguyên liệu. Toàn bộ dữ liệu được làm sạch, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và chạy mô hình hồi quy tuyến tính bội thông qua phần mềm xử lý dữ liệu SPSS 16.0.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích từ mô hình cân bằng từng phần và dữ liệu khảo sát 109 doanh nghiệp đã chỉ ra những phát hiện định lượng then chốt:

Thứ nhất, chính sách áp thuế chống bán phá giá từ 6,45% đến 30,73% làm thay đổi mạnh mẽ cấu trúc cung cầu và giá cả thị trường. Theo tính toán từ mô hình, dự tính cả năm 2014 khi có bảo hộ, giá thép cán nguội sản xuất trong nước duy trì ở mức khoảng 3.245,5 USD/tấn với sản lượng đạt 255.450 tấn, trong khi giá hàng nhập khẩu sau thuế bị đẩy lên mức 3.388 USD/tấn khiến sản lượng nhập khẩu giảm xuống còn 137.550 tấn. Nếu dỡ bỏ bảo hộ để tiến tới tự do hóa hoàn toàn, sản lượng nhập khẩu ước tính sẽ tăng thêm 23.155 tấn lên mức 160.705 tấn, đồng thời sản lượng nội địa sẽ thu hẹp khoảng 11.213 tấn về mức 244.237 tấn.

Thứ hai, kết quả kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội cho thấy toàn bộ 5 nhân tố độc lập gồm Chất lượng sản phẩm, Chủng loại sản phẩm, Năng suất sản xuất, Chi phí sản xuất và Khả năng thích ứng đều có ý nghĩa thống kê và tác động cùng chiều đến Sự phát triển của doanh nghiệp. Trong đó, biến Chi phí sản xuất và Chủng loại sản phẩm thể hiện mức độ tác động vượt trội. Việc nguyên liệu đầu vào tăng giá từ 10% đến 20% do thuế quan đã trực tiếp làm xói mòn từ 15% đến 25% biên lợi nhuận ròng của các đơn vị gia công hạ nguồn.

Thứ ba, sự thiếu hụt chủng loại inox kỹ thuật cao trong nước gây tắc nghẽn chuỗi cung ứng nghiêm trọng. Khảo sát chỉ ra rằng hơn 70% doanh nghiệp không thể tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế tương đương từ các nhà sản xuất nội địa, dẫn đến tình trạng giảm 12% năng suất vận hành máy móc do tỷ lệ phế phẩm tăng cao khi phải xử lý nguyên liệu không đồng đều.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những tác động tiêu cực trên bắt nguồn từ thực trạng nền sản xuất thép không gỉ Việt Nam năm 2014 vẫn còn non trẻ. Các nhà máy trong nước chưa thể tự luyện kim từ quặng mà phụ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu thép cuộn cán nóng từ nước ngoài về để cán nguội. Khi năng lực công nghệ chưa hoàn thiện, việc áp thuế bảo hộ quá sớm vô hình trung tạo ra vị thế độc quyền nhóm cho hai đơn vị sản xuất lớn, tước đi cơ hội tiếp cận nguồn nguyên liệu đa dạng với giá cạnh tranh của các doanh nghiệp hạ nguồn.

Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu thực nghiệm của Aggarwal và Aradhna năm 2010 tại Ấn Độ, khi việc áp thuế chống bán phá giá đối với thép không gỉ đã làm suy giảm sản lượng xuất khẩu của hơn 225 doanh nghiệp hạ nguồn. Kết quả cũng củng cố luận điểm của Mary Amiti và Jozef Konings năm 2005 tại Indonesia: việc giảm 10% thuế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào giúp tăng 3% năng suất toàn diện của doanh nghiệp, cao gấp 3 lần so với hiệu ứng giảm thuế trên sản phẩm đầu ra. Tương tự, nghiên cứu của Trefler năm 2004 tại Bắc Mỹ cũng ghi nhận năng suất lao động tăng trưởng 14% khi các rào cản thuế quan nguyên liệu được cắt giảm.

Về mặt kiểm định thống kê, dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa dạng hình chuông cân đối và đồ thị xác suất chuẩn P-P Plot. Các điểm quan sát phân bố bám sát đường chéo kỳ vọng với hệ số phóng đại phương sai VIF đều nhỏ hơn 2, khẳng định mô hình hồi quy không vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến và giả định phân phối chuẩn được đảm bảo hoàn hảo.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng định lượng vững chắc, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm cân bằng lợi ích kinh tế giữa các chủ thể:

Thứ nhất, Bộ Công Thương và Hội đồng Xử lý phòng vệ thương mại cần tái cấu trúc cơ chế áp thuế chống bán phá giá theo hướng linh hoạt và có điều kiện. Thay vì duy trì mức thuế cao cố định từ 6,45% đến 30,73%, cơ quan quản lý nên rà soát định kỳ 120 ngày một lần, gắn mức thuế với chỉ số đáp ứng thực tế của nguồn cung trong nước. Mục tiêu là kiểm soát mức chênh lệch giá giữa thép nội địa và giá CIF thế giới không vượt quá ngưỡng 5% nhằm tránh gây sốc chi phí cho thị trường.

Thứ hai, các doanh nghiệp sản xuất thép không gỉ nội địa như Posco VST và Inox Hòa Bình phải khẩn trương tối ưu hóa quy trình quản trị sản xuất. Cần phân bổ ít nhất 10% đến 15% dòng tiền tái đầu tư vào công nghệ xử lý bề mặt và đa dạng hóa quy cách cán nguội, nâng sản lượng thực tế đạt trên 85% công suất thiết kế 235.000 tấn, hướng tới mục tiêu hạ giá thành đơn vị từ 5% đến 8% trong khung thời gian 12 đến 24 tháng.

Thứ ba, các doanh nghiệp gia công và tiêu thụ thép hạ nguồn cần chủ động triển khai hệ thống quản trị sản xuất tinh gọn Lean Six Sigma. Việc tối ưu hóa định mức tiêu hao nguyên vật liệu nhằm kéo giảm tỷ lệ phế liệu xuống dưới mức 2,5% là yêu cầu sống còn. Đồng thời, doanh nghiệp cần chủ động đàm phán hợp đồng cung ứng kỳ hạn từ 6 đến 12 tháng để phòng ngừa biến động giá thép.

Thứ tư, Hiệp hội Thép Việt Nam phối hợp cùng cộng đồng doanh nghiệp hạ nguồn xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dự báo cung cầu minh bạch. Cần thiết lập các liên minh mua sắm chung để đàm phán nhập khẩu số lượng lớn các mác thép chuyên dụng mà trong nước chưa sản xuất được, duy trì tính ổn định trong vòng 3 đến 5 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm doanh nghiệp sản xuất cơ khí, thiết bị gia dụng và vật liệu xây dựng: Tài liệu cung cấp góc nhìn sâu sắc về phương thức kiểm soát chi phí đầu vào, kỹ thuật dự báo rủi ro chính sách thuế và phương pháp cơ cấu lại danh mục nhà cung cấp khi thị trường nguyên liệu biến động.

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách ngoại thương: Cung cấp phương pháp luận thực chứng về mô hình cân bằng từng phần CPEM để đánh giá tác động lan tỏa của các biện pháp tự vệ thương mại, từ đó đưa ra quyết định áp thuế hài hòa, bảo vệ sản xuất nội địa nhưng không triệt tiêu năng lực cạnh tranh của chuỗi giá trị hạ nguồn.

Các doanh nghiệp sản xuất và chế biến kim loại thượng nguồn: Nắm bắt bức tranh tổng quan về nhu cầu thực tế của thị trường hạ nguồn, từ đó định hình chiến lược đầu tư công nghệ, mở rộng quy cách sản phẩm và xây dựng chính sách giá hợp lý để cạnh tranh sòng phẳng với hàng nhập khẩu.

Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh tế Quốc tế: Đây là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình kết hợp phân tích kinh tế lượng vĩ mô thông qua mô hình CPEM với phương pháp khảo sát định lượng vi mô bằng công cụ SPSS trên cỡ mẫu 109 doanh nghiệp với 22 biến quan sát.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình cân bằng từng phần CPEM trong luận văn đo lường những chỉ số phúc lợi nào?

Mô hình CPEM tập trung lượng hóa sự thay đổi giá cả và sản lượng cân bằng trên cả thị trường nhập khẩu lẫn thị trường nội địa. Qua đó, mô hình đo lường sự dịch chuyển của 4 đại lượng: mức gia tăng thặng dư tiêu dùng, mức thay đổi thặng dư sản xuất, nguồn thu ngân sách từ thuế và phần tổn thất hiệu quả xã hội khi dỡ bỏ hoặc thiết lập hàng rào bảo hộ.

Tại sao chính sách áp thuế chống bán phá giá thép không gỉ năm 2013 lại vấp phải phản ứng gay gắt từ doanh nghiệp hạ nguồn?

Nguyên nhân là do ngành cán nguội trong nước thời điểm đó chưa tự chủ được phôi thép và chưa đáp ứng đủ các chủng loại chuyên sâu. Mức thuế chống bán phá giá từ 6,45% đến 30,73% đã làm tăng chi phí nhập khẩu nguyên liệu, trong khi giá thép nội địa lại cao hơn thế giới từ 10% đến 20%, khiến hơn 18 doanh nghiệp lớn gặp nguy cơ thua lỗ nặng nề.

Cỡ mẫu 109 doanh nghiệp có đủ độ tin cậy khoa học để kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính không?

Cỡ mẫu 109 hoàn toàn đảm bảo độ tin cậy khoa học. Theo tiêu chuẩn của Hair và cộng sự năm 2009, tỷ lệ 5 mẫu trên một biến quan sát đòi hữu tối thiểu 110 mẫu cho 22 biến. Đồng thời, theo công thức của Tabachnick và Fidell năm 2007 với 5 biến độc lập, cỡ mẫu tối thiểu yêu cầu là 109 mẫu, đảm bảo độ chính xác cho các phân tích EFA và hồi quy ANOVA.

Việc giảm thuế nguyên liệu đầu vào mang lại lợi ích năng suất khác biệt gì so với giảm thuế sản phẩm đầu ra?

Nghiên cứu của Mary Amiti và Jozef Konings năm 2005 chỉ ra rằng giảm 10% thuế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào giúp tăng 3% năng suất tổng thể của doanh nghiệp chế tạo. Con số này cao gấp 3 lần so với việc giảm thuế tương đương ở sản phẩm đầu ra, vì nguyên liệu nhập khẩu chất lượng cao giúp giảm đáng kể tỷ lệ hao hụt và thúc đẩy tiếp thu công nghệ mới.

Doanh nghiệp sử dụng thép cần triển khai giải pháp gì để giảm thiểu rủi ro biến động chính sách bảo hộ?

Doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược quản trị rủi ro đa tầng: đa dạng hóa mạng lưới nhà cung cấp từ các thị trường không bị áp thuế phòng vệ, ký kết các hợp đồng kỳ hạn để chốt giá nguyên liệu từ 6 đến 12 tháng, đồng thời ứng dụng kỹ thuật sản xuất tinh gọn nhằm hạ thấp định mức phế liệu gia công dưới 2,5%.

Kết luận

  • Luận văn lượng hóa thành công tác động kép của chính sách bảo hộ thương mại trong ngành thép không gỉ, chứng minh rằng việc bảo hộ cục bộ cho 2 nhà sản xuất thượng nguồn tạo ra chi phí ngoại ứng rất lớn lên chuỗi giá trị hạ nguồn.
  • Ứng dụng xuất sắc mô hình cân bằng từng phần CPEM dự báo sản lượng nhập khẩu cả năm 2014 giảm 23.155 tấn và sản lượng nội địa duy trì mức 255.450 tấn dưới tác động của mức thuế 6,45% đến 30,73%.
  • Kết quả định lượng trên 109 doanh nghiệp với 22 biến quan sát khẳng định Chi phí sản xuất và Chủng loại sản phẩm là hai yếu tố then chốt chi phối sự phát triển của doanh nghiệp gia công thép.
  • Đóng góp thực tiễn lớn nhất của đề tài là hệ thống 4 nhóm giải pháp điều phối chính sách thuế linh hoạt trong chu kỳ 120 ngày và lộ trình nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong giai đoạn 12 đến 24 tháng.
  • Doanh nghiệp sản xuất và các nhà hoạch định chính sách cần chủ động tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng các mô hình dự báo chi phí và tối ưu hóa chuỗi cung ứng ngay hôm nay.