ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu (BĐKH) đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu. Do những tác động và ảnh hƣởng trực tiếp đến môi trƣờng sống của các quốc gia trên trái đất. Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trƣờng toàn cầu. Trong những năm qua, nhiều nơi trên Thế giới đã chịu nhiều thiên tai nguy hiểm nhƣ bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng và vật chất của con ngƣời.
Theo Thông báo quốc gia lần thứ 2 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng: Kể từ năm 1958 đến năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng 0,5 - 0,70C. Nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam. Cụ thể nhƣ năm 2007, nhiệt độ trung bình cả năm tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng điều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931-1940 là 0,8 - 1,3 0C; cao hơn thập kỷ 1990 - 2000 là 0,4 - 0,50C.
Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lƣợng mƣa trung bình năm trên lãnh thổ nƣớc ta không rõ rệt theo các thời kỳ và các vùng khác nhau. Lƣợng mƣa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam. Tính trung bình trong cả nƣớc, lƣợng mƣa trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2%. Tuy vậy, biến đổi lƣợng mƣa có xu hƣớng cực đoan, đó là tăng trong mùa mƣa và giảm mạnh trong mùa khô.
Theo TTXVN (năm 2003), một biểu hiện đáng lo ngại nữa của biến đổi khí hậu là mực nƣớc biển dâng đã và đang gây ngập lụt trên diện rộng, nhiễm mặn nguồn nƣớc, ảnh hƣởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tƣơng lai. Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn ven biển Việt Nam cho thấy, tốc độ dâng lên của mực nƣớc biển trung bình hiện nay là 3mm/năm, tƣơng đƣơng với tốc độ tăng trung bình trên thế giới. Trong 50 năm qua, mực nƣớc biển tại Trạm Hải văn Hòn Dấu tăng lên khoảng 20cm. --- 2 Kịch bản biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng cập nhật chi tiết cho Việt Nam năm 2012, do Viện Khoa học Khí tƣợng thủy văn và Môi trƣờng, Cục Khí tƣợng thủy văn và biến đổi khí hậu, Trung tâm Khí tƣợng thủy văn quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng) công bố ngày 17 - 4 tại Hà Nội: - Theo kịch bản phát thải cao, vào cuối thế kỷ 21, nếu mực nƣớc biển dâng 1m sẽ có khoảng 39% diện tích ĐBSCL, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích TP.
HCM có nguy cơ bị ngập. Nhƣ vậy, gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng ĐBSCL; trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh; gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số TP. HCM bị ảnh hƣởng trực tiếp. Đồng thời trên 4% hệ thống đƣờng sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hƣởng.
- Đặc biệt, trong đó có 7 khu vực ven biển của Việt Nam và các bản đồ nguy cơ ngập tƣơng ứng với mực nƣớc biển dâng cho khu vực đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh; 15 tỉnh ven biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bà Rịa - Vũng Tàu với tỷ lệ 1/10.000 (tƣơng đƣơng cấp huyện); khu vực TP. HCM và ĐBSCL với tỷ lệ 1/5. Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), TP. HCM nằm trong danh sách 10 thành phố bị đe doạ nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu (bao gồm Calcutta và Bombay của Ấn Độ, Dacca của Bangladesh, Thƣợng Hải, Quảng Châu của Trung Quốc, TP.Hồ Chí Minh của Việt Nam, Bangkok của Thái Lan và Yangon của Myanmar).
Theo UBND TP.Hồ Chí Minh, hiện thành phố đang phải đối mặt với một số vấn đề cấp bách cần giải quyết nhƣ sự gia tăng dân số; quá tải về kết cấu hạ tầng đô thị, nạn kẹt xe, ngập úng, ô nhiễm về môi trƣờng…, cùng với đó là các tác động, ảnh hƣởng của BĐKH đối với nhiều ngành và lĩnh vực diễn ra thƣờng xuyên. HCM, BĐKH, và nƣớc biển dâng (NBD) có khả năng gây ra tình trạng thiếu nƣớc vào mùa khô trong một số khu vực, đồng thời gây thiếu nƣớc cho tƣới tiêu, sản xuất và sinh hoạt. Tình trạng thiếu nƣớc sinh hoạt trong mùa khô tiếp tục --- 3 diễn ra ngày càng nghiêm trọng ở nhiều khu dân cƣ, đặc biệt ở phía Nam thành phố, bao gồm quận 7, quận 8 và huyện Nhà Bè. Xâm nhập mặn tác động tiêu cực đến chất lƣợng nguồn nƣớc, nƣớc ngầm.
Nƣớc sông Sài Gòn có khả năng nhiễm mặn vào mùa khô, làm tăng khả năng thiếu nƣớc sạch trên diện rộng. Nếu độ mặn nƣớc sông Sài Gòn tăng cao sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến công suất và chất lƣợng nƣớc của các nhà máy nƣớc Tân Hiệp và Thủ Đức. Ở vị trí xa trung tâm Thành phố, nƣớc mặn cũng xâm nhập vào các sông, kênh rạch của huyện Nhà Bè và Cần Giờ, làm cho đời sống sinh hoạt và sản xuất của ngƣời dân ở đây càng khó khăn do thiếu nƣớc sạch, nƣớc ngọt. Hồ Chí Minh có 154 xã, phƣờng, trong đó, 48% tổng số xã phƣờng sẽ phải chịu ngập úng ít nhiều trong các trận ngập úng thông thƣờng và 235 xã (chiếm 73% tổng số xã, phƣờng) bị ngập trong các trận ngập úng bất thƣờng.
Ngay cả các quận huyện trƣớc đây chƣa bị ngập úng thƣờng xuyên thì trong tƣơng lai dự báo cũng sẽ phải chịu ngập úng ít nhất là một phần. Ngoài ra, trong các đợt ngập úng bất thƣờng, tất cả các quận huyện đều bị ảnh hƣởng. Những điểm ngập ở thành phố Hồ Chí Minh (Nguồn: Trung tâm điều hành chương trình chống ngập nước TP. Hồ Chí Minh, 09/2015) --- 4 Khu vực quận 7, quận 8, quận Bình Tân thuộc phía Nam thành phố Hồ Chí Minh có địa hình thấp, phần lớn diện tích có địa hình thấp hơn 2,0m (Kết quả nghiên cứu của Viện KHTL miền Nam).
Nếu xem các diện tích đất đai thấp hơn cao trình 2,0m đều có thể chịu ảnh hƣởng triều, có thể nhận thấy rằng, khu vực này hầu hết chịu ảnh hƣởng bởi nƣớc biển dâng, đều này có tác động rất lớn đến phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng, đặc biệt là các khu dân cƣ và dân cƣ sinh sống ở vùng nội thành phía Nam thành phố. Mặt khác, địa hình khu vực này lại bị chia cắt bởi sông rạch, cơ sở hạ tầng giao thông kém phát triển nên chịu ảnh hƣởng nặng nề do BĐKH Cũng theo tính toán của Nguyễn Kỳ Phùng và Lê Văn Tâm (04/2011), diện tích ngập úng do nƣớc biển dâng ở khu vực này là đáng kể với tỷ lệ bị ngập do nƣớc biển dâng từ 21,24% (kịch bản B2) đến 32,16% (kịch bản A1FI) vào năm 2070. Kịch bản phát thải khu vực quận 7, quận 8 và quận Bình Tân thành phố Hồ Chí Minh năm 2070 Kịch bản phát thải B2 Quận/ 2020: 8cm 2030: 11 cm 2070: 30 cm huyện Diện tích Tỷ lệ Diện tích Tỷ lệ Diện tích Tỷ lệ (ha) % (ha) % (ha) % Quận 7 34,8402 0,99 35,5402 1,01 51,1302 1,45 Quận 8 26,5455 1,39 26,5554 1,39 26,8701 1,40 Bình Tân 23,4194 0,45 23,4594 0,45 215,816 4,16 Kịch bản phát thải A1FI 2020: 8cm 2030: 13cm 2070: 37cm Quận 7 34,8402 0,99 36,9402 1,05 62,3702 1,77 Quận 8 26,5455 1,39 26,5654 1,39 27,2524 1,42 Bình Tân 23,4194 0,45 23,7802 0,46 333,687 6,43 Nguồn: Biến đổi khí hậu và tác động đến TP. HCM, Nguyễn Kỳ Phùng, 2011.
Mặc dù có bị ảnh hƣởng bởi BĐKH nhƣng tiềm năng về kinh tế, đất đai… của khu vực quận 7, quận 8, quận Bình Tân thuộc phía Nam thành phố là rất to lớn theo định hƣớng phát triển quy hoạch đô thị mới về hƣớng Nam thành phố. --- 5 Và mới nhất, theo UBND TP. Hồ Chí Minh vừa ban hành Quy định về quản lý quy hoạch chung đô thị theo đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng TP. HCM đến năm 2025, một trong những hƣớng phát triển chính là phát triển về hƣớng Nam tiến ra biển.
Hành lang phát triển là tuyến Nguyễn Hữu Thọ với điều kiện địa chất thủy văn đặc biệt, nhiều sông rạch, có khả năng phát triển về quỹ đất đô thị và điều kiện phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị; tuân thủ quy định bảo vệ sông rạch, phát huy thế mạnh đặc thù sông nƣớc với mật độ xây dựng thấp, không làm giảm diện tích mặt nƣớc phục vụ cho tiêu thoát nƣớc của Thành phố. Để có thể biến chiến lƣợc này thành hiện thực, việc nghiên cứu các ảnh hƣởng do tác động của biến đổi khí hậu, nhất là nƣớc biển dâng và có các giải pháp thích ứng phù hợp là quan trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng do biến đổi khí hậu đến khu dân cư nội thành phía Nam thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất các giải pháp ứng phó và giảm thiểu” là quan trọng và cần thiết. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một trong những công cụ hiệu quả giúp cho ngƣời dân các quận 7, quận 8, quận Bình Tân thuộc phía Nam thành phố thích ứng với biến đổi khí hậu và là cơ sở cho các cấp lãnh đạo thành phố đƣa ra những chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội, phát triển dân số và đô thị ở vùng phía Nam thành phố Hồ Chí Minh.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Về quy định: Theo quyết định 158/QĐ/TTg ngày 2/12/2008 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, một số chỉ tiêu đến năm 2015 cần đạt đƣợc nhƣ sau: Về đánh giá tác động của biến đổi khí hậu: - Tiếp tục cập nhật các kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam, đặc biệt là nƣớc biển dâng. - Hoàn thành việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là nƣớc biển dâng đến các lĩnh vực, ngành và địa phƣơng. Xác định các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu --- 6 - Hoàn thành việc xây dựng các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành và địa phƣơng.