Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN DĨ AN, BÌNH DƯƠNG TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH 1. Cơ sở lý luận của quá trình CNH, HĐH huyện Dĩ An, Bình Dương 1. Đường lối CNH, HĐH của Đảng Cộng sản Việt Nam Công nghiệp hóa được coi là sản phẩm trực tiếp của cuộc cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII, còn hiện đại hóa là sản phẩm tất yếu của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật giữa thế kỷ XX. Ngày nay, trong bối cảnh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa được thừa nhận là con đường tạo dựng nền văn minh mới với những tên gọi khác nhau, như “văn minh hậu công nghiệp”, “văn minh tin học”, “văn minh trí tuệ”,.
Với tư cách là nấc thang đánh dấu trình độ phát triển mới của nền văn minh nhân loại, CNH, HĐH được thừa nhận là quá trình tất yếu, mang tính quy luật đối với tất cả các nước từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Đối với Việt Nam hiện nay, CNH, HĐH không chỉ là quá trình tất yếu, khách quan, mà còn là một đòi hỏi bức thiết. Bởi lẽ, từ một nền kinh tế tiểu nông phấn đấu đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, chúng ta chỉ có một con đường là thực hiện CNH, HĐH. Cho đến nay cả trên bình diện lý luận và thực tiễn, chúng ta đều khẳng định con đường này.
Đây là con đường duy nhất để nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo, để tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước trong khu vực và đưa nước ta nhanh chóng đạt tới trình độ cao của một nước phát triển, chúng ta cần phải đẩy mạnh CNH, HĐH với tư cách là “một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc nhất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”. Coi đây là sự lựa chọn 13 phù hợp với quy luật khách quan để chúng ta hội nhập vào tiến trình phát triển chung của quốc tế và khu vực, Đảng ta khẳng định, về thực chất, “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [38, tr. Có thể nói, quan niệm này, về cơ bản, đã phán ánh được phạm vi rộng lớn của quá trình CNH, HĐH, chỉ ra cái cốt lõi của nó là cải biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao, gắn được CNH với HĐH, xác định rõ vai trò của công nghiệp và khoa học – công nghệ trong quá trình tiến hành CNH, HĐH. Vì vậy, quá trình CNH ở nước ta có đặc điểm khác với quá trình CNH của các nước đi trước.
Một điều rất rõ ràng là, chúng ta không thể thực hiện xong xuôi quá trình CNH với nội dung căn bản là cơ khí hóa các ngành của nền kinh tế quốc dân rồi mới tiến hành HĐH. Hơn nữa, khi thực hiện cơ khí hóa cũng không thể sử dụng máy móc lạc hậu trước đây, mà phải sử dụng kỹ thuật công nghệ sản xuất tiên tiến hiện đại. Với ý nghĩa đó, CNH trong điều kiện hiện nay bao hàm những nội dung của hiện đại hóa; công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa. Đó là con đường phát triển tất yếu, khách quan của cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay.51] Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 6 – 1996) nhìn lại chặng đường đất nước sau mười năm đổi mới Đảng ta có nhận định quan trọng: Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng.
Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 – 1995 hoàn thành về cơ bản. Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã 14 hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho CNH đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước [34, tr. Đại hội cũng chỉ rõ mục tiêu của CNH, HĐH là “xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất… Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [34, tr.
Đại hội cũng đề ra những nội dung CNH, HĐH cho 5 năm (1996 – 2000) đó là: Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; Phát triển công nghiệp, ưu tiên các ngành chế biến lương thực – thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin; Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội; Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ hàng không, hàng hải, bưu chính – viễn thông, thương mại, vận tải, tài chính, ngân hàng,… và các dịch vụ phục vụ cuộc sống nhân dân; Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ; Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại; [34, tr. Bước vào thế kỷ XXI nhận định về xu thế phát triển của tình hình thế giới trong thế kỷ XXI, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt.
Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan,. chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh. Những nét mới ấy trong tình hình thế giới và khu vực tác động mạnh mẽ đến tình hình nước ta.
Trước mắt nhân dân ta có cả cơ hội lớn và thách thức lớn” [31, tr. 15 Từ nhận thức được những tác động của tình hình thế giới, tại Đại hội IX Đảng ta vẫn tiếp tục xác định CNH, HĐH là tất yếu và khẳng định: “Con đường CNH, HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế trí thức. CNH, HĐH đất nước phải đảm bảo xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ” [31, tr.
Và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (tháng 4.2006), Đảng tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn liền với phát triển kinh tế tri thức, chúng ta tranh thủ thời cơ thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát triển kinh tế tri thức. Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH; phát triển mạnh các ngành kinh tế và các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức. Chúng ta cũng chủ trương đẩy mạnh hơn nữa CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân” [37, tr. Như vậy, bước vào thế kỷ XXI, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong nước và quốc tế, Đảng ta nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện CNH, HĐH đất nước trong điều kiện mới.
Đó là CNH gắn với HĐH và CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức; CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế; CNH, HĐH lấy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của CNH, HĐH; phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; TTKT đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học. 16 Tóm lại: hơn 10 năm qua (1996 – 2009), CNH HĐH đã đóng vai trò quan trọng đối với đất nước ta nhất là từ sau Đại hội VII, Đảng ta đã đổi mới nhận thức về CNH, HĐH và luôn quan tâm cụ thể hóa nội dung CNH, HĐH cho phù hợp với xu thế phát triển của thế giới với quyết tâm phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đường lối CNH, HĐH của Đảng đã vạch đường đi cho các Đảng bộ địa phương để các Đảng bộ vận dựng vào điều kiện, hoàn cảnh địa phương mình, phát triển công nghiệp theo định hướng chung của Đảng, góp phần vào việc thực hiện thành công những mục tiêu mà Đảng đã đề ra. Đảng bộ tỉnh Bình Dương vận dụng đường lối CNH, HĐH của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong những năm 1999 – 2009, căn cứ vào những thuận lợi và khó khăn của tỉnh mới tái lập, đồng thời quán triệt Nghị quyết Đại hội VIII, IX, X của Đảng và các Nghị quyết của Trung ương về đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng bộ tỉnh Bình Dương đã cụ thể hóa những chủ trương, đường lối đó một cách chủ động, linh hoạt vào điều kiện cụ thể của địa phương, từng bước đẩy mạnh CNH, HĐH, góp phần vào sự phát triển chung của cả nước.
Các chủ trương CNH, HĐH của tỉnh Đảng bộ Bình Dương trong giai đoạn 1999 – 2009, được đề ra và hoàn thiện từng bước trong Đại hội Đảng bộ tỉnh lần VI, VII, VIII và trong các Nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của Tỉnh ủy.