Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1. Dàn dựng Có nhiều cách hiểu về dàn dựng. Theo tác giả Nguyễn Như Ý: Dàn dựng là tập luyện và chuẩn bị mọi mặt cho việc trình bày tác phẩm nghệ thuật sân khấu trước khi đưa ra công diễn.
Dàn dựng là công việc của người thực hiện, biến phương hướng thành hiệu quả của chương trình [49]. Ý kiến của tác giả Tạ Thị Lan Phương: Dàn dựng là công việc chi tiết, cụ thể của người đứng đầu, chịu trách nhiệm cho một chương trình nghệ thuật [34; tr11]. Dựa theo các ý kiến trên, có thể hiểu: Dàn dựng là công việc biến ý tưởng thành sản phẩm nghệ thuật có chất lượng và hiệu ứng tốt trên sân khấu. Quá trình thực hiện công việc này có sự tham gia xuyên suốt của người chịu trách nhiệm dàn dựng và cũng là người quyết định màu sắc riêng cho sản phẩm.
Như vậy, người dàn dựng cần có khả năng tư duy, sáng tạo tốt và có cái nhìn bao quát trong lĩnh vực nghệ thuật; Bên cạnh đó, có nhiệm vụ xây dựng, thiết kế, lựa chọn các thành phần tham gia và tiến hành tập luyện hiệu quả để sản phẩm đạt chất lượng nghệ thuật cao. Nhằm mang đến cho người tham gia những trải nghiệm thú vị về lĩnh vực nghệ thuật, cũng như mang đến cho khán giả giá trị ý nghĩa về tinh thần. Trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật âm nhạc có thể phân loại dàn dựng ở hai dạng là dàn dựng chương trình và dàn dựng tiết mục. Điểm chung giữa hai dạng này là khi dàn dựng cần tuân thủ một số nguyên tắc chung như: Đảm bảo nội dung tư tưởng, đảm bảo tính nghệ thuật và đảm bảo tính logic (bố cục).
Dàn dựng chương trình Dàn dựng một chương trình nghệ thuật cần được tiến hành theo các bước. 7 Bước một, phác thảo chương trình: Đây là bước đầu tiên có nhiệm vụ tổng hợp tất cả các tác phẩm, các tiết mục đơn lẻ sắp xếp thành một chương trình để biểu diễn trên sân khấu sao cho có nội dung, có tính nghệ thuật. Đồng thời chương trình đó cần phù hợp với khả năng diễn viên, điều kiện tài chính, thời lượng biểu diễn, sân khấu, cảnh quan, môi trường, đối tượng khán giả…Để bước một được thành công, người dàn dựng cần xác định được chủ đề, chủ trương, mục đích của chương trình để lựa chọn tiết mục cho phù hợp; Tính toán kinh phí giúp định hướng được chương trình sẽ tổ chức theo cách nào; Tổ chức xem qua khả năng của diễn viên để lựa chọn diễn viên phù hợp… Bước hai, người dàn dựng chương trình cần bám sát vào tổng thể đã được chuẩn bị ở bước một, có thể dàn dựng từng tiết mục theo thứ tự đã sắp xếp… Bước ba, tổng duyệt chương trình: Sau khi hoàn chỉnh các tiết mục cần chạy từ đầu tới cuối chương trình để rút kinh nghiệm, chỉnh sửa những thiếu sót và đưa ra những biện pháp khắc phục giúp chương trình đạt hiệu quả hơn. Ngoài chạy chương trình ở nơi luyện tập, khi đến địa điểm biểu diễn với không gian, thời gian khác nhau việc tổng duyệt chương trình biểu diễn lại càng trở nên quan trọng.
Điều này giúp cho các diễn viên làm quen với môi trường biểu diễn mới, vị trí tập kết, ra vào sân khấu, khớp nối các tiết mục, rà soát thời gian và chất lượng nghệ thuật… 1.Dàn dựng tiết mục Dàn dựng tiết mục đòi hỏi sự chi tiết, cụ thể về các yếu tố như trang phục, số lượng người tham gia, đội hình biểu diễn, chất liệu âm nhạc, hòa âm phối khí, bài trí sân khấu cho tiết mục…Dàn dựng tiết mục cũng cần tiến hành theo từng nội dung: Dàn dựng phần âm nhạc (học lời hát và giai điệu, kỹ thuật hát (đàn), bè chính và bè phụ nếu là tiết mục hát tốp, phần solo và phần đệm nếu là tiết mục đàn…). 8 Dàn dựng phần diễn xuất (đội hình biểu diễn, sắc thái biểu cảm, phụ họa cho tiết mục, cách xử lý các tình huống xảy ra trên sân khấu…). Chạy tiết mục: Sau khi hoàn chỉnh phần dàn dựng cho diễn viên và bài trí sân khấu, người dàn dựng nên yêu cầu các diễn viên biểu diễn từ đầu tới cuối tiết mục. Việc chạy tiết mục rất quan trọng vì nó giúp cho các diễn viên làm quen với việc chuẩn bị sức khỏe, tinh thần để biểu diễn hoàn chỉnh từ đầu tới cuối tiết mục.
Nó còn giúp cho sự phối hợp giữa các thành phần tham gia tiết mục như MC, người hát, người đệm đàn, múa phụ họa, ánh sáng, âm thanh, sân khấu… được thành thục và ăn ý. Nó giúp cho người dàn dựng và diễn viên có thể chỉnh sửa và bổ sung thêm những ý kiến về kỹ thuật cũng như thể hiện tác phẩm âm nhạc… Căn cứ vào chất liệu của tác phẩm để dàn dựng nên tiết mục là yếu tố rất quan trọng. Bởi nếu tác phẩm mang chất liệu âm nhạc cổ truyền, dân ca, dân gian của vùng miền nào thì khi dàn dựng phải chú ý màu sắc, tính chất, trang phục, đạo cụ, hòa thanh, hình thức biểu diễn…cho phù hợp với chất liệu âm nhạc và đặc tính vùng miền đó. Người dàn dựng cần hết sức chú ý để tránh không bị lẫn sang dàn dựng với các tiết mục mang yếu tố nhạc mới.
Biểu diễn Thuật ngữ “nghệ thuật biểu diễn” đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào năm 1711 [50]. Nghệ thuật biểu diễn sử dụng cơ thể (đầu, cổ, thân, hai tay, hai chân), tiếng nói và sự có mặt của chính nghệ sĩ làm phương tiện trình diễn trước công chúng. Nghệ thuật biểu diễn cũng được hỗ trợ bởi các thành viên trong các lĩnh vực có liên quan như sáng tác, biên đạo, dàn dựng… Như vậy, nếu theo cách hiểu cá nhân: Biểu - biểu cảm, bộc lộ cảm xúc; Diễn - hành động xảy ra, thì cơ bản biểu diễn là việc thông qua hành động để bộc lộ cảm xúc. Nhưng nếu chỉ đơn giản là việc thông qua hành động để bộc lộ cảm xúc thì đó là biểu diễn mà vẫn được xảy ra hàng ngày, mọi lúc, mọi nơi với mọi người, chưa thể được coi là nghệ thuật.
Để hiểu biểu diễn theo 9 góc độ nghệ thuật thì cần phải có ít nhất ba thành phần tham gia đó là: nghệ sĩ biểu diễn, tác phẩm và khán giả. Nghệ sĩ biểu diễn có thể hiểu là người trình bày tác phẩm nghệ thuật. Có những nghệ sĩ chuyên và không chuyên nghiệp, nhưng điểm chung là họ thường sử dụng phục trang, hóa trang, âm thanh, ánh sáng sân khấu để thích ứng với chương trình biểu diễn của họ. “Biểu diễn tác phẩm được hiểu là trình diễn một tác phẩm thông qua hành động như là diễn xuất, trần thuật kể truyện, hát, khiêu vũ hoặc trình chiếu trước sự có mặt của một nhóm khán giả, thính giả hoặc là thông qua việc truyền dẫn bằng các thiết bị hoặc quy trình kỹ thuật như micro, phát sóng truyền hình cáp, truyền hình kỹ thuật số…” [50].
Diễn xướng Diễn xướng là thuật ngữ được dùng khá quen thuộc trong nghiên cứu văn học nghệ thuật và đặc biệt là trong nghiên cứu văn hóa dân gian. Song trong quá trình nhận diện, nhiều vấn đề liên quan đến thuật ngữ này còn chưa thật sự thống nhất. Tác giả Nguyễn Thị Yên viết: Về khái niệm diễn xướng, nếu hiểu trong nghĩa hẹp thì đó là các hoạt động sân khấu, nhảy múa, âm nhạc, còn hiểu theo nghĩa rộng thì đó là các hoạt động văn hóa của con người, là những hoạt động hết sức sống động [45; tr 98]. Trong bài viết Từ diễn xướng truyền thống đến nghệ thuật sân khấu Tác giả Lê Trung Vũ đã xác định: Diễn xướng vừa là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội định kỳ (như Hội Gióng, Hội Xoan, Hội chùa Keo, Lễ mở đường cày đầu năm…) quy mô làng xã; lại vừa là hình thái sinh hoạt văn hóa xã hội không định kỳ, nhưng định lệ (lễ làm nhà mới, đám cưới, đám tang, lễ thành niên, lễ thượng thọ…) quy mô một gia đình hoặc việc của một người; lại cũng 10 vừa là lối trình diễn rất tự nhiên không định kỳ cũng không định lệ mà do nhu cầu sinh hoạt, lao động (Ru con, hát trong lúc lao động, vì lao động hoặc để giải trí).
Tác giả cũng lưu ý rằng: “đã gọi là diễn xướng thì thường phải có diễn (múa, động tác, âm nhạc) và xướng (nói, ngâm ngợi, ca hát)” [43; tr35-36]. Tìm hiểu về diễn xướng, tác giả Nguyễn Hữu Thu quan niệm: Thuật ngữ diễn xướng là để chỉ chung việc thể hiện, trình bày những sáng tác văn nghệ của con người gồm nhiều yếu tố hợp thành (…) diễn xướng là tất cả những phương thức sinh hoạt văn nghệ mang tính chất nguyên hợp của loài người từ lúc sơ khai cho đến thời đại văn minh hiện nay [39; tr56-58]. Năm 1997, Hội nghị khoa học chuyên đề: Mối quan hệ giữa diễn xướng dân gian với nghệ thuật sân khấu, Viện Nghệ thuật - Bộ Văn hóa, với sự tham gia của nhiều tác giả cũng đưa ra khái niệm: Diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt văn nghệ của nhân dân gắn bó chặt chẽ với cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Diễn xướng dân gian là cái nôi sinh thành của nền văn nghệ dân tộc, có quan hệ mật thiết với hầu hết các bộ môn nghệ thuật dân tộc trước cũng như sau khi chúng trở thành những bộ môn riêng biệt.
Bàn về khái niệm này, nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu cho rằng: Thuật ngữ diễn xướng dân gian có thể và cần được hiểu với hai nghĩa rộng và hẹp khác nhau. Với nghĩa rộng, diễn xướng dân gian là tất cả mọi hình thức biểu diễn và ít hoặc nhiều đều mang tính chất tổng hợp tự nhiên, mà lâu nay ta quen gọi là văn học dân gian; còn nghĩa hẹp nó chỉ bao gồm các thể loại diễn (như trò diễn, trò tế lễ dân gian. Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) năm 2003 đã định nghĩa diễn xướng một cách ngắn gọn là “Trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu”[33]. Trong bài “Diễn xướng dân ca - Phương thức trao truyền dân gian trong bối cảnh hiện nay” được đăng trên Website trường ĐHSPNTTW 11 (http:/www.
Trần Hoàng Tiến đã viết: Nghệ thuật diễn xướng do người Việt sáng tạo nên, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, môi trường sống. Các trò diễn dân gian, cách thức tổ chức hội làng, đồng dao trẻ em… xuất phát từ quan niệm cộng sinh, cộng cảm, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần.