CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẢM BẢO TÍN DỤNG CHO KHU VỰC NÔNG THÔN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1. Tầm quan trọng của đảm bảo tín dụng đối với khu vực nông thôn của các tổ chức tín dụng 1. Khái niệm tín dụng, tín dụng nông thôn và hệ thống tín dụng khu vực nông thôn 1. Khái niệm tín dụng Theo hợp đồng tín dụng của NHNN Việt Nam (1999) thì tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, phản ánh quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn, có mục đích và bảo đảm tiền vay.
Theo Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng (TCTD) số 47/2010/QH12, Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả, kèm theo lợi tức khi đến hạn. Như vậy, tín dụng có thể hiểu một cách đơn giản là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia bằng nhiều hình thức như: cho vay, bán chịu hàng hoá, bảo lãnh,… được sử dụng trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó đã thỏa thuận. Tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự phát triển mạnh mẽ, với các mối quan hệ cung cầu về tiền vốn như một đòi hỏi cần thiết khách quan của nền kinh tế.
Khái niệm tín dụng nông thôn Tín dụng nông thôn là bất cứ loại chương trình tiết kiệm và cho vay nhằm mục đích tác động đến cư dân khu vực nông thôn. Tùy theo tính chất của tín dụng nông thôn, kế hoạch tín dụng có thể tập trung vào việc cung tín dụng, đảm bảo xây sửa nhà ở, mua sắm trang thiết bị mới, trồng trọt chăn nuôi, đổi mới hoặc cải thiện cuộc sống người dân khu vực nông thôn … Ngày nay, do sự phát triển của các tổ chức tín dụng tại khu vực nông thôn khái niệm tín dụng nông thôn đã thay đổi rất nhiều trong những năm gần đây. Trước kia, tín dụng nông thôn thường được hiểu là tín dụng ưu đãi. Hiện nay theo xu thế phát triển chung, khái niệm tín dụng nông thôn gắn liền với các chính sách tín dụng cho khu vực nông thôn nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển khu vực nông thôn và xây dựng nông thôn mới.
Khái niệm hệ thống tín dụng nông thôn Các tổ chức tín dụng nông thôn đã ra đời từ khi có hoạt động tín dụng, chủ yếu là hoạt động của khu vực phi chính thức như các phường hụi họ, bát, vay nợ lẫn nhau giữa các bạn bè, họ hàng và những người cho vay nặng lãi, cầm đồ. Vì vậy, cần có hệ thống các tổ chức tín dụng nông thôn hoạt động trên khu vực nông thôn để hạn chế cho vay nặng lãi. Hệ thống tín dụng nông thôn là khối liên kết các tổ chức cung cấp các dịch vụ tín dụng cho các cá nhân và tổ chức trong khu vực nông thôn, hiện hữu trên địa bàn nông thôn, với mục tiêu trực tiếp phục vụ cho nhu cầu khu vực nông thôn. Các khách hàng của hệ thống tín dụng nông thôn thường ít tiếp cận được hoặc không tiếp cận được dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại.
Hệ thống tín dụng nông thôn thường cung cấp các dịch vụ như: gửi tiền, chuyển tiền, cho vay, bảo hiểm, thẻ … Theo đề tài cấp bộ (2006) – TS. Phạm Thị Khanh, thì Hoạt động của hệ thống tín dụng nông thôn, xét về bản chất là sự hoạt động của một loại quỹ tiền tệ, 7 bao gồm hai quá trình: huy động vốn và cho vay vốn trên thị trường ở khu vực nông thôn. Có thể mô hình hóa hoạt động của hệ thống tín dụng nông thôn như sơ đồ sau: Cho vay vốn Cho vay vốn Trung gian tài chính trên địa bàn nông thôn Hoàn trả vốn Hoàn trả vốn Chủ thể cho Hệ thống tín dụng Chủ thể đi vay vốn nông thôn vay vốn Cho vay vốn Cho vay vốn Trung gian tài chính trên địa bàn nông thôn Hoàn trả vốn Hoàn trả vốn Sơ đồ 1.1: Hoạt động của hệ thống tín dụng nông thôn 1. Bản chất, chức năng và phân loại của tín dụng khu vực nông thôn 1.
Bản chất của tín dụng khu vực nông thôn Tín dụng được hiểu là một phạm trù kinh tế hoạt động rất đa dạng và phong phú. Bản chất có tính chất đặc trưng của tín dụng là tính không thay đổi về trạng thái và giá trị mặc dù nó luôn được lưu chuyển và thay đổi về phương thức giao dịch và tín dụng khu vực nông thôn cũng mang đầy đủ bản chất đó, cụ thể như sau: Tín dụng khu vực nông thôn đóng vai trò là cầu nối giữa người thiếu vốn và người thừa vốn, đáp ứng nhu cầu về vốn của người thiếu vốn đồng thời cũng giúp người thừa vốn sử dụng hiệu quả đồng vốn của mình tại khu vực nông thôn. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa là sự phát triển của thị trường vốn năng động và đa dạng. Quá trình hình thành và phát triển của tín dụng là một thể thống nhất của nhiều hình thức, mỗi hình thức tín dụng đều gắn liền với 8 một điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, bổ sung cho nhau và có thể phủ nhận nhau trong tiến trình phát triển.
Chức năng của tín dụng khu vực nông thôn Tín dụng khu vực nông thôn có nhiều chức năng nhưng tập trung chủ yếu ở ba chức năng cơ bản như sau: Một là, chức năng phân phối lại tài sản dưới hình thức vốn tiền tệ của người thừa vốn chuyển cho người thiếu vốn. Thực chất là chuyển nhượng quyền sử dụng vốn thông qua các trung gian tài chính. Việc luân chuyển vốn tiền tệ này xuất phát từ lợi ích của cả ba bên là bên thừa vốn, bên thiếu vốn và các trung gian tài chính, được thực hiện một cách tự nguyện theo thỏa thuận xuất phát từ nhu cầu của các bên và trong khuôn khổ pháp luật. Các tổ chức, cá nhân thừa vốn và thiếu vốn được thực hiện thông qua tín dụng, vừa khắc phục được tình trạng thừa thiếu vốn, vừa phát huy hiệu quả sử dụng vốn.
Hai là, chức năng tạo vốn tiền tệ của tín dụng. Từ nguồn vốn nhàn rỗi huy động được từ các tổ chức và cá nhân tại khu vực nông thôn hình thành nguồn vốn lớn của các tổ chức tín dụng rồi từ đó cung ứng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tại khu vực nông thôn để sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu đời sống. Ba là, chức năng kiểm tra của tín dụng. Vốn cho vay không làm thay đổi quyền sở hữu của người cho vay.
Người cho vay vốn luôn tính tới sự bảo đảm an toàn vốn của mình và phải có lãi, tức là phát triển được số vốn đã có, chống rủi ro mất vốn, chính vì vậy phải có sự kiểm tra sử dụng vốn của người vay. Chức năng kiểm tra của tín dụng thực hiện trước khi quan hệ tín dụng phát sinh, trong quá trình sử dụng vốn và đến khi quan hệ tín dụng kết thúc. Người sử dụng vốn tín dụng phải chứng minh là sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, đúng mục đích, có tài sản bảo đảm hoặc sự tín nhiệm. Phân loại và các hình thức của tín dụng khu vực nông thôn Hiện nay, có nhiều cách phân loại tín dụng trong nền kinh tế thị trường và tại khu vực nông thôn chủ yếu được phân loại theo các tiêu thức như: thời hạn cho vay, đối tượng cho vay, mục đích … * Phân loại theo thời gian: Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng để đáp ứng cho nhu cầu vốn lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn.
Thời hạn tối đa không quá một năm. Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng chủ yếu được tài trợ để mua sắm trang thiết bị, phương tiện vận tải, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng nhà xưởng, xây sửa nhà ở …. Thời hạn từ trên một năm đến năm năm. Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho các công trình xây dựng nhà, cầu cống, đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thời gian khấu hao dài.
Thời hạn trên năm năm. * Phân loại theo đối tượng cho vay: Cho vay vốn cố định: là loại tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng để đầu tư vào tài sản cố định như máy móc thiết bị, xe ô tô, xây sửa nhà xưởng, xây sửa nhà ở … Cho vay vốn lưu động: là loại tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của khách hàng trong sản xuất kinh doanh như mở rộng kinh doanh, bổ sung vốn lưu động kinh doanh hàng hóa dịch vụ… * Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay: Tín dụng cho sản xuất, lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng được cung cấp cho các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hóa. Nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá trình sản xuất, kinh doanh để dự trữ nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, nhu cầu thanh toán … Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cho vay đáp ứng nhu cầu của khách hàng vay tiêu dùng, phục vụ đời sống như xây sửa nhà ở, mua sắm trang thiết bị trong gia đình … và thường được thu dần từ thu nhập của cá nhân người vay vốn. 10 * Phân loại theo mức độ tín nhiệm của khách hàng: Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: là loại tín dụng cho vay khách hàng phải có đảm bảo bằng tài sản như là Quyền sử dụng đất, nhà xưởng, ô tô, sổ tiền gửi … Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà theo đó ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng để cho vay trên cơ sở khách hàng có tín nhiệm với ngân hàng, có năng lực tài chính và có phương án, dự án khả thi; có khả năng hoàn trả nợ vay như cho vay đối với cán bộ công nhân viên chức hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, cho vay theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP của Chính phủ … 1.