Chương 1: CƠ SỞ KHACH QUAN HÌNH THANH KHOI ĐẠI DOAN KET DAN TOC.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng khối liên minh và đoàn kết dân tặc. Xã hội loài người như Các.Mác đã nói là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người và người trong qúa trình sống và lao động sản xuất. Người ta không thể sống riêng lẻ, cô độc một mình ma ngay từ khi mdi lọt long mẹ con người đã sống trong một cộng đẳng dân tộc nhất định. Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thức công đẳng khác nhau trong lịch sử như :Thị tộc, bộ lạc,bộ tộc và hình thức cộng đẳng cao nhất trong lịch sử đó là dẫn tộc.
Sự ra đời và phát triển của dẫn tộc là một quá trình lau dai và phức tạp. Trong xã hội chưa có giai cấp thì hình thức thị tộc và bộ lạc là cơ bản nhất. Thị tộc là một tập thể sản xuất xã hội đầu tiên của xã hội nguyên thuỷ có sự cộng đẳng về nguồn gốc, có ngôn ngữ chung, phong tục tín ngưỡng, những đặc điểm về lối sống và văn hoá chung. Mỗi thị tộc có chung một khu dân cư và vùng săn bắn riêng.
Mọi thành viên trong thị tộc cùng tiến hành sản xuất chung trên cơ sở sở hữu xã hội và sản nhẩm làm ra là chia déu cho tất cả mọi người .Thị tộc ra đời sớm —vao thời ki đỗ đá cũ, khi xuất hiện giống người hiện đại .Thị tộc dau tiên là thị tộc mẫu hệ .Trong thời kì này vai trò quyết định trong đời sống kinh tế thuộc về người phụ nữ, vì ở thời kì này do sự- phân công lao động, người đàn ông đi sin bắn, kết quả rất thất thường. Trong khi đó lao động của người phụ nữ bảo đảm cho những điều kiện sinh hoạt ổn định. Ho đi hái lượm cây quả, chuẩn bị thức ăn, trông lom lửa và nhà cửa.Chính vì vậy, họ có uy tín và quyền hành hơn người đàn ông. Nhưng sau này, do sự phát triển của lực lượng sản xuất của xã hội nguyên thuỷ, của trồng trọt và chãn nuôi thì vai trồ của người đản dng trong đời sống kinh tế tăng lên và hình thức cũng đẳng phụ quyển ra đời dẫn thay thế cho hình thức công đồng mẫu quyền.
Đây là giai đoạn phát triển cao của sự phát triển chế độ thị tộc. Bộ lạc là một cộng đẳng người lớn hơn so với thị tộc, phát triển từ thị tộc. Mỗi hộ lac it nhất hai thị tộc. Và những thị tộc hợp thành bộ lạc có quan hệ thuyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau, Bên cạnh quyền sở hữu của thị tộc có quyền sở hữu của bộ lạc, trước hết về lãnh thổ, nơi ở dan cư của các thị tộc, nơi săn ban, đất canh tác.Một nhu cầu mới nảy sinh là phải điểu khiển, lãnh đạo toàn bộ lạc, vì vậy xuất hiện các thủ lĩnh, những người làm nghé tế lễ những người coi sóc công việc chiến tranh .Mỗi bộ lạc có tiếng nói chung, sống trên một lãnh thé, có chung những tap quần, tín ngưỡng tôn giáo và những yếu tố của nền văn hoá nguyễn thủy.
Trong thời kì đầu tổn tại của xã hội loài người, hình thức cộng đồng thi tc -bộ lạc là hình thức duy nhất có khả năng hoạt động và phát riển sản xuất của xã hội nguyên thuỷ.Và tất cả các dân tộc trên thế giới đều trải qua hình thức cộng đẳng này kéo dai hang van năm @ giai đoạn chế độ công xã nguyên thủy. Cộng đồng thị tộc, bộ lạc, một mặt đã tạo ra khả năng mở rộng va phát triển sản xuất, phát triển nén văn hoá nguyên thuỷ đem lại những điểu kiện thuận lợi để tích luỹ và giữ gìn kinh nghiệm sản xuất.Nhưng bên cạnh đó chính do mối quan hệ huyết thống, phạm vi lãnh thổ trật hep và những mẫu thuẫn trong các thị tộc, bộ lac đã kìm hãm sự giao lưu, phat triển kinh tế. Cuối cùng dẫn tới thay thế hình thức cộng đẳng này của xã hội nguyên thuỷ không có giai cấp bằng hình thức cộng đẳng khác của xã hội có giai cấp là bộ tộc va dẫn lộc. Bộ tộc là hình thức phát triển cao của cộng đồng người trong xã hội.
Nếu như hộ lạc là sự liên kết giữa các thị tộc thì bộ tộc lại là sự liên kết của nhiều bộ lạc với nhau. Bộ tộc hình thành cùng với chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc cùng với chế độ phong kiến.Bộ tộc có lãnh thổ chung, có tiếng nói chung, đặc điểm tầm li chung, văn hoá và lối sống chung trong thời ki này xuất hiện nên sở hữu cá nhãn, quyển chiếm hữu tư nhãn của những kẻ bóc lột hình thành và phát triển. Bộ tộc đã tạo điều kiện chủ sản xuất phất triển, trao đổi thành tựu văn hoá, hoàn thiện tiếng nói và moi hình thức giao tiếp giữa những con người sống trong một lãnh thổ có hang chục, hang trăm người dân. Nhưng khi sự trao đổi đã trở nên rộng rãi, bao quát nhiều dạng hoạt động của con người thì bộ tộc trở thành hình thức cộng đồng người hạn chế đối với sự phát triển của cải vật chất và trao đổi.Trong giai đoạn này nên kinh tế tự nhién gia tộc không còn phù hợp nữa va thay thế vào đó bằng nên sản xuất hàng hoá.Quan hệ hằng hoá tư bản phát triển mạnh mẽ đã thủ tiêu tích chất cát cứ kinh tế của các vùng sản xuất riêng lẻ tạo ra tiếng nói và đặc điểm van hoá chung, thống nhất con người vàu một cộng đẳng bên vững hơn là dan tộc.
Mac-Angghen đã chỉ ra rằng dân tộc là sản phẩm của sự phát triển lịch sử xã hội ở thời kì chủ nghĩa tư bản: "Giai cấp tư sản ngày càng xoá bỏ tình trạng phân tán của tư liệu sdn xuất, của tài sản và của dan cư nó tập trung dân cư, tập trung các tư liệu sản xuất và tích tụ tài sản vào trong tay một số ít ngươi.Kết quả tất nhiên của những thay đổi ấy là sự tập trung về chính trị. Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu như bởi những quan hệ liên minh và có những lợi ích, chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất, có tính giai cấp và một thuế quan thống nhất. "[5,546-547]Và do nhiều nguyên nhân khác nhau quá trình tạo ra nhà nước tập quyển diễn ra nhanh hơn và được hoàn thiện sém hơn trước khi tất cả các bộ tộc sống trên một vùng lãnh thổ trở thành dân tộc .Từ đó, hình thành nên các quốc gia nhiều dân tộc. Những quốc gia dân tộc cũng được hình thành khi giai cấp thống trị đã hình thành dựa vào quyển lực nhà nước tập quyển khuất phục các dân tộc khác về trình độ kinh tế kinh nghiệm kém hon, Chính vì vây, các quốc gia nhiều thành phần dân tộc phải đoàn kết lại với nhau không chỉ để chống tự nhiên mã còn chống giặc ngoại xâm.
Từ những lí luận trên của Mác-Angphen,Lênin về dân tộc chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về dân tộc:Dãn tộc là một cộng đẳng người ổn định được thành lập trong lịch sử dựa trên cơ sở vẻ tiếng nói, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế và tâm lí, biểu hiện công đẳng về văn hod.Trong các đặc trưng trên thì đặc trưng kinh tế và văn hóa là đặc trưng qua trọng nhất và chỉ khi nào hội đủ bốn yếu tốnày, din tộc mới được hình thành hẳn. Bởi vậy, khái niệm dân tộc thường gắn liên với vấn để thành và phát triển của quốc gia dân tộc. Chính vì vậy, mà có quốc gia dan tộc hình thành sđm, nhưng lại có quốc gia dân tộc hình thành tré hơn. Mỗi một quốc gia dân tộc có một nhà nước, một lãnh thể riêng.
Và chính do sự phát triển của lực lượng sản xuất, do nhu cầu trao đổi hàng hóa ngày càng mở rộng đã dẫn đến tình trạng dân tộc này đi áp bức dan tộc khác, Từ tình hình thực tế trên đòi hỏi mỗi quốc gia dân tộc phải đoàn kết, thống nhất lại với nhau để chống tự nhiên, đấu tranh với dan tộc khác khi họ bị áp bức, bóc lội. Trên thế giới hiện này có khoảng 300 dân tộc lớn nhỏ phân hố ở hơn 200 quốc gia.Rất ít quốc gia thuần nhất một thành phan dan tộc, ma hau hết các nước trên thế giới đều la "quốc gia nhiều thành phấn dan tộc. "Nhưng trái lại cũng có những dân tộc sống rải rác trên nhiều nước khác nhau như người Do Thái,người Digan,Trung Quốc và có cả người Việt Nam chúng ta tạo ra sự đa dạng trong mỗi quốpc gia dân tộc, nhưng đẳng thời cũng tạo ra nhiều mân thuẫn đòi hỏi mỗi quốc gia phải có biện pháp giải quyết đúng đấn nhằm phát triển kinh tế —xã hội của đất nước mình. Như đã nói ở trên khi lực lượng sản xuất càng phát triển, nhu cau mở rộng thị trường ra các nườc ngày càng lớn.Chính vì vậy, trên thế giới đã xuất hiện nhiễu cuộc chiến tranh xâm lược để tranh giành tài nguyên, tranh gianh thị trường .Và trên thế giới đã diễn ra nhiều cuộc chiến tranh giữa caé dân tộc, các quốc gia nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia mình.
Từ thực tiễn trên Mác đã nghiên cứu và chỉ ra nguyên nhân của các cuộc chiến tranh, áp bức, bóc lột của dân tộc này với dân tộc khác đó là do có tinh trạng 4p bức giai cấp, do còn chế độ người áp bức bóc lột người. Day là nguyên nhãn căn bản, nguyên nhan sâu xa gay ra tinh trạng trên .Chủ nghĩa w bản muốn tổn tại vá phat triển thì phải đi 4p bức, bóc lột dan tộc đang phát triển.Và chính 10 chủ nghĩa tư bản là nguồn gốc của tinh trạng áp bức, bóc lột.Vĩ vay, muốn xóa hủ triệt để nạn áp bức, bóc lộc dân tộc thì phải xóa bỏ áp bức giai cấp, tức xoá bỏ chế độ tư bản. Mác- Angghen viết: "Hãy xoá bỏ tinh trang người bác lột người thì tình trạng dan tộc này áp hóc lột dan tộc khác cũng bị xóa bỏ, Khi sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không nòn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đẳng thời mất theo. "[6,624 Để thực hiện sử mệnh lịch sử này thì chỉ có giai cấp công nhân mới thực hiện được.